Thuyết minh về một di tích lịch sử ở Thanh Hóa lớp 9
Thuyết minh giới thiệu về một di tích lịch sử ở Thanh Hóa lớp 9
- Dàn ý Thuyết minh về một di tích lịch sử ở Thanh Hóa
- Thuyết minh về một di tích lịch sử ở Thanh Hóa: Đền Sòng Sơn
- Thuyết minh về một di tích lịch sử ở Thanh Hóa: Đền Bà Triệu
- Thuyết minh về một di tích lịch sử ở Thanh Hóa: Thành Nhà Hồ
- Thuyết minh về một di tích lịch sử ở Thanh Hóa: Hàm Rồng
- Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử lớp 9
Dàn ý Thuyết minh về một di tích lịch sử ở Thanh Hóa
1. Mở bài: Giới thiệu và dẫn dắt vào danh lam thắng cảnh ở Thanh Hóa: thành nhà Hồ (còn gọi là thành Tây Đô)
2. Thân bài
a/ Giới thiệu chung:
- Thành Nhà Hồ thuộc địa phận hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá
- Năm 1397, Hồ Quý Ly chọn đất An Tôn xây thành thủ hiểm. Thành được xây dựng ở khoảng giữa sông Mã và sông Bưởi
b/ Thuyết minh chi tiết
- Thành Tây Đô có 4 cửa Đông, Tây, Nam, Bắc. Mỗi cửa đều được mở ở chính giữa. Các mặt thành kỹ thuật ghép đá đạt đến trình độ cao. Những cổng thành được xếp các phiến đá theo hình múi cam.
- Hiện nay, thành có độ cao trung bình 7m đến 8m, các cổng thành còn khá nguyên vẹn, riêng cửa nam cao tới 10m.
- Nét đặc sắc của tường thành này là ở phần xây đá bên ngoài, còn bên trong đắp đất. Mặt ngoài thành được gia cố bằng những tảng đá xanh đẽo vuông vức, công phu ít nhất có từ 4 đến 5 mặt phẳng.
- Qua hơn 600 năm trường tồn cùng những biến cố, thăng trầm của đất nước và tác động của thời tiết, hệ thống tường thành còn khá nguyên vẹn cho đến ngày nay.
- Tường thành không những được xây bằng đá tảng mà năm Tân Tỵ (1401), Hồ Hán Thương hạ lệnh cho nhân dân nung gạch để xây thêm phần tường thành phía trên.
- Phần tường gạch ngày nay gần như không còn nữa nhưng những viên gạch vẫn thấy nằm rải rác trong các gia đình gần thành.
3. Kết bài: Khái quát lại về vẻ đẹp và ý nghĩa lịch sử của thành Nhà Hồ.
Thuyết minh về một di tích lịch sử ở Thanh Hóa: Đền Sòng Sơn
Nhắc đến lễ hội đền Sòng, dân gian từ xưa đã truyền nhau câu ca:
“Nhất vui là hội Phủ Dầy
Vui thì vui vậy chẳng tày Sòng Sơn”.
Đền Sòng, nơi bà Chúa Liễu Hạnh hiển thánh, là chốn linh thiêng của đạo Mẫu và lễ hội đền Sòng cũng là ngày hội lớn của những tín đồ đạo Mẫu, cũng như du khách thập phương khắp trong Nam, ngoài Bắc…
Đền Sòng Sơn được xây dựng vào thời Cảnh Hưng triều vua Lê Hiển Tông (1740- 1786) là nơi thờ Nữ Thần Vân Hương - Bà Chúa Liễu Hạnh hay Thánh mẫu Liễu Hạnh. Đền Sòng mặt hướng về phía Tây Bắc, trước đền có một hồ nước tự nhiên hình bán nguyệt quanh năm xanh trong đó là Hồ cá Thần, tương truyền rằng hàng năm cứ đến cự Tháng giêng, Hai có một đàn cá toàn thân màu đỏ lũ lượt kéo về bơi lội trong hồ, nhưng khi hết Lễ hội Đền Sòng ( từ ngày 1 đến ngày 26 tháng 2 AL) thì đàn cá tự nhiên không thấy nữa. Nhân dân quanh vùng nói rằng đó là các Nàng tiên trên thượng giới hoá phép về hầu Tiên chúa Thánh Mâu Liễu Hạnh…
Từ hồ cá Thần có hai con suối nhỏ chảy lượn quanh khiến cho ngôi đền như ngự trên một hòn đảo nhỏ bồng bềnh giữa mây trời non nước. Phía trước đền có chiếc cầu bằng đá do Bà Hoàng Thái hậu nhà Lê phát tâm công quả xây dựng từ năm thứ 33 triều Cảnh Hưng (1772 ). Cầu được bắc qua con suối trong veo chảy quanh đền làm tăng thêm vẻ ngoạn mục của ngôi đền. Hai suối nước lượn quanh co uốn khúc về phía Đông hợp lưu cùng chín dòng nước phun lên từ lòng đất tạo thành chín giếng nước tự nhiên không bao giờ vơi cạn.
Nhân dân dựng nên ngôi đền cạnh chín cái giếng tự nhiên đó và quen gọi là đền Chín Giếng để thờ Cô Chín - cũng là một tiên nữ được vua cha Ngọc Hoàng cho theo hầu Thánh mẫu Liễu Hạnh. Đền Chín Giếng là một công trình nằm trong quần thể của di tích Đền Sòng Sơn; cách đền Sòng 1Km về phía Đông du khách sau khi vãn cảnh dâng hương Đền Sòng bao giờ cũng cũng đến dâng hương vãn cảnh Đền Chín Giếng.
Bước qua cổng Tam Quan, sau khi thắp hương trước tượng Phật bà Quan âm Bồ tát; du khách vào dâng hương cung Đệ Tam, là cung thờ Hội đồng Thánh Quan, trong đó thờ các ông Hoàng và các Cô đệ tử , nổi bật là ông Hoàng Bơ (Ba), Ông Hoàng Bảy. Tại cung này phối thờ cả Đức Thánh Trần Hưng Đạo Vương. Qua cung đệ tam du khách vào dâng hương cung Đệ Nhị; Nơi đây thờ Ngọc Hoàng ( Vua Cha của Thánh Mẫu Liễu Hạnh ) và các Quan. Trên các cột và xà ngang trong Đền được trang trí 26 cuốn thư, hoành phi, câu đối suy tôn , ca ngợi công đức và sự linh thiêng của Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
Qua cung Đệ Nhị là cung Đệ Nhất , đây là cung thâm nghiêm, ít khi được mở cửa trừ những ngày lễ rước Thánh Mẫu hàng năm vào tháng Hai âm lịch. Gian chính có tượng thờ Thánh Mẫu, trong trang phục màu đỏ lộng lẫy, dáng ngồi uy nghi mà khoan dung độ lượng. Hai bên là hai đệ tử thân tín: Quế Nương, Nhị Nương, vốn là hai tiên nữ được Ngọc Hoàng Vua cha cho theo hầu tiên chúa Liễu Hạnh giáng trần lần thứ 3; Quế Nương trong trang phục màu hồng, Nhị Nương trong trang phục màu xan; Hai gian bên có tượng thờ Mẫu Thoải( Thần nước)và Mẫu Thượng Ngàn (Thần Núi rừng ).
Từ nhiều đời nay nhân dân tìm đến với Liễu Hạnh là tìm đến với đạo Mẫu. Liễu Hạnh công chúa là biểu tượng của ước mơ giải phóng phụ nữ. Câu đối ở đền Ngọc Hồ (Hà Nội) – một trong những nơi thờ Thánh Mẫu đã phần nào đã nói lên Thánh Mẫu Liễu Hạnh luôn chiếm vị trí quan trọng trong tâm thức của người Việt nam nói chung và người Thanh hoá nói riêng.
Thuyết minh về một di tích lịch sử ở Thanh Hóa: Đền Bà Triệu
Đền Bà Triệu ở Thanh Hóa thuộc khu di tích lịch sử Bà Triệu, tọa lạc trên ngọn núi Gai, thuộc địa phận làng Phú Điền, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa, ngôi đền được lập dưới thời vua Lý Nam Đế nhằm tưởng nhớ đến công ơn của vị nữ anh hùng bất khuất Triệu Thị Trinh.
Đền thờ Bà Triệu, hay còn có tên gọi khác là đền thờ bà Triệu Thị Trinh – một trong những vị tướng anh hùng có công lao rất lớn trong việc đánh đuổi giặc Trung Quốc đến xâm chiếm bờ cõi nước ta vào thế kỷ III (TCN). Ngôi đền được xây dựng theo đúng kiến trúc của Bắc Trung Bộ, vừa trầm mặc, cổ kính nhưng cũng rất tinh tế. Hiện tại, nơi đây còn lưu giữ nhiều cổ vật, các kho tàng sự tích, ca dao, huyền thoại và cả những hiện vật hiếm có.
Đền Bà Triệu tọa lạc hướng Bắc, gồm các công trình là Nghi môn ngoại, hồ sen hình chữ nhật, bình phong, Nghi môn trung, sân dưới, Nghi môn nội, sân trên (hai bên có Tả/hữu mạc), Tiền đường, sân thượng, Trung đường, sân thiên tỉnh, Hậu cung. Nghi môn ngoại được xây kiểu tứ trụ, bằng đá nguyên khối; trên đỉnh cột trụ cao là hình chim phượng lá lật, trụ thấp hình nghê chầu, lồng đèn chạm hình tứ linh, tường hai bên là hai bức chạm nổi tượng voi chầu. Hồ nước có chiều rộng 29,8m, dài 42,2m, ba mặt hồ xây lan can thấp, mặt đối diện với Nghi môn nội được tạo bậc lên xuống, bậc thềm có rồng chầu. Bình phong đặt phía trước Nghi môn trung, bằng đá nguyên khối, tạo tác theo kiểu hình cuốn thư, dài 4,075m, cao 2,37m.
Nghi môn trung có kiến trúc tứ trụ truyền thống, trên đỉnh cột lớn là hình chim phượng lá lật, hai cột trụ nhỏ chạm nổi hình khối tượng nghê chầu, các ô lồng đèn trang trí hình tứ linh. Sân dưới nằm trước nghi môn nội, dài 49,8m, rộng 12m; nền sân lát gạch bát. Ở hai bên tả, hữu của sân có miếu Sơn thần và Thổ thần. Nghi môn nội có kiểu dáng như Tam quan của chùa, gồm 2 tầng mái, 3 cửa ra vào, 4 cột cao ở cửa giữa và 4 cột thấp ở hai cửa bên; đỉnh cột trụ lớn gắn chim phượng lá lật, trụ nhỏ có nghê chầu; mái cuốn vòm, dán ngói âm dương. Hai bên cửa chính ra vào đặt 2 tượng nghê chầu cổ bằng đá.
Sân trước nhà Tiền đường dài 51,40m, rộng 11,55m, nền lát bằng đá tảng đục nhám mặt. Trên sân đặt 01 bát hương đá hình tròn, hai bên có 2 cây đèn đá hình trụ, phía ngoài đặt 2 tượng voi chầu bằng đá khối. Tả mạc và Hữu mạc nằm ở hai bên sân trước nhà Tiền đường, mỗi nhà có 5 gian, thu hồi bít đốc, tường bao 3 mặt; vì kèo làm bằng gỗ lim theo kiểu“chồng rường giá chiêng”, chạm hình hoa lá; nền nhà lát gạch bát kiểu cổ. Tiền đường có 3 gian 2 chái, mái thu hồi bít đốc, vì kèo kiểu “quá giang, trụ đinh, kèo suốt” trên 4 hàng chân cột (12 cột) bằng đá núi Nhồi, đục vuông cạnh, trên các cột đá chạm nổi vế đối chữ Hán. Nóc nhà trang trí hổ phù đội mặt trăng, ngậm chữ Thọ; kìm nóc hình đầu rồng, đuôi rồng có dáng đuôi cá mang đậm dấu ấn của kiến trúc và điêu khắc thời Nguyễn.
Trung đường ngăn cách với nhà Tiền đường bới sân thượng, lát bằng đá xanh đục nhám mặt ở trục thần đạo. Trung đường là kiến trúc gỗ 5 gian 2 tầng mái cong, 4 vì kèo gỗ cấu trúc “giá chiêng chồng rường kẻ bẩy”, trang trí đề tài tứ linh, hình hoa lá, vân mây, rồng hóa… Tại gian giữa, đặt 2 tượng nghê chầu cổ. Ở phía ngoài, trang trí các bức phù điêu kìm nóc và kìm góc mái, rồng ngậm chữ Thọ đội mặt nguyệt, nghê chầu ở hai bên bờ chảy. Bậc Tam cấp có rồng chầu bằng đá xanh nguyên khối, kiểu dáng thời Lê.
Hậu cung nối với Trung đường bằng sân Thiên tỉnh, dài 2,45m, rộng 6,9m, trục thần đạo lát đá xanh đục nhám mặt. Hậu cung có kiến trúc bằng gỗ 3 gian 2 chái, hai tầng mái cong, với 4 vì kèo kiểu “giá chiêng chồng rường, kẻ bẩy”, 4 hàng chân cột. Trang trí trên hệ khung vì là các bức chạm nổi, chạm bong hình rồng, lá cúc leo, cúc to bản, hoa sen ở các đầu dư, quá giang, kẻ bẩy, hình tượng rồng ở kìm góc, kìm nóc mái…
Với kiến trúc độc đáo, đền Bà Triệu trở thành một trong những địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng Việt Nam, thu hút đông đảo khách thập phương đến chiêm bái, khám phá kiến trúc tâm linh.
Thuyết minh về một di tích lịch sử ở Thanh Hóa: Thành Nhà Hồ
Từ thành phố Thanh Hoá, theo quốc lộ 45 ngược lên phía bắc, qua các huyện Đông Sơn, Thiệu Hoá, đến huyện lỵ Vĩnh Lộc, ngược con đường Thiên Lý xưa kia độ 2 km là chúng ta đã đến Thành Tây Đô hay còn gọi là Thành An Tôn, Thành Tây Giai, thành Nhà Hồ thuộc địa phận hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá ngày nay.
Thành được xây dựng ở khoảng giữa sông Mã và sông Bưởi, phía Bắc có núi Thổ Tượng, phía Tây có núi Ngưu Ngoạ, phía Đông có núi Hắc Khuyển, phía Nam là nơi hội tụ của sông Mã chảy từ phía Tây về và sông Bưởi chảy tới. Sử cũ cho biết thành xây 3 tháng thì xong. Thành Tây Đô được xây dựng trên bình đồ kiến trúc gần vuông. Hiện nay, thành có độ cao trung bình 7m đến 8m, các cổng thành còn khá nguyên vẹn, riêng cửa nam cao tới 10m. Thành Tây Đô là bằng chứng về sức lao động và tài năng của nhân dân ta và là công trình mang nhiều giá trị lịch sử văn hoá to lớn.
Nét đặc sắc của tường thành này là ở phần xây đá bên ngoài, còn bên trong đắp đất. Mặt ngoài thành được gia cố bằng những tảng đá xanh đẽo vuông vức, công phu ít nhất có từ 4 đến 5 mặt phẳng. Nhiều phiến rất to ở cửa Tây (dài tới 5,1m, rộng 1,59m, cao 1,30m), được xếp chồng lên nhau thành hình chữ công. Những phiến đá nặng hàng tấn chỉ xếp lên mà không cần chất kết dính vẫn đảm bảo độ bền vững. Qua hơn 600 năm trường tồn cùng những biến cố, thăng trầm của đất nước và tác động của thời tiết, hệ thống tường thành còn khá nguyên vẹn cho đến ngày nay. Tường thành không những được xây bằng đá tảng mà năm Tân Tỵ (1401), Hồ Hán Thương hạ lệnh cho nhân dân nung gạch để xây thêm phần tường thành phía trên. Phần tường gạch ngày nay gần như không còn nữa nhưng những viên gạch vẫn thấy nằm rải rác trong các gia đình gần thành.
Cho đến nay, nơi khai thác và cung cấp đá cho việc xây dựng thành Tây Đô và cả việc chuyên chở vật liệu đang là đề tài bàn bạc. Nhân dân địa phương cho biết, người xưa có thể lấy đá ở nhiều nơi quanh vùng Tây Đô, gần nhất là núi đá xanh Yên Tôn, hiện còn những tảng đá xanh mang tên “An Tôn xã”. Hang Tượng dùng để nhốt voi chuyên chở đá xây thành. Con đường phía Tây được lát đá xanh bằng phẳng từ bờ sông Mã đến cửa Tây còn có tên gọi “Bến Đá”. Gần đây, những hộ dân xung quanh đường còn giữ được những viên bi đá. Đá lấy từ nhiều nơi khác, chuyên chở bằng đường sông, đường bộ, chở bằng cộ (loại xe lớn có một bánh gỗ), chở bằng voi kéo, hoặc người ta dùng những viên bi đá cho khối đá khổng lồ trượt lên trên.
Thành Tây Đô có 4 cửa : Đông, Tây, Nam, Bắc. Mỗi cửa đều được mở ở chính giữa. Các mặt thành kỹ thuật ghép đá đạt đến trình độ cao. Những cổng thành được xếp các phiến đá theo hình múi cam.
Thuyết minh về một di tích lịch sử ở Thanh Hóa: Hàm Rồng
Du khách đi bằng đường bộ từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam không thể không đi qua Hàm Rồng. Hàm Rồng nằm ở cửa ngõ phía Bắc tỉnh lị Thanh Hóa, là yết hầu cua con đường huyết mạch một thời đánh Mĩ, niềm tự hào của dân tộc trong một giai đoạn lịch sử oanh liệt.
Nằm cách thành phố Thanh Hoá 5 km về hướng Bắc theo đường thuỷ cũ hay là 7 km theo đường quốc lộ 1A, Hàm Rồng hiện lên với sơn thuỷ hữu tình, trời mây thật là diễm lệ. Thiên nhiên dường như có sự ưu đãi đặc biệt với nơi này. Đã qua hàng trăm năm, bàn tay con người khai phá, xây dựng nhưng Hàm Rồng - Sông Mã vẫn giữ nguyên được cái vẻ ban đầu mà tạo hoá đã ban cho. Những gì con người dựng nên và những gì vốn có của đất trời có sự hoà hợp với nhau tạo nên nét riêng. Vừa hùng lại nên thơ, mượt mà đằm thắm mà vẫn giữ được chút gì hoang sơ. Cầu Hàm Rồng bắc ngang đôi bờ sông Mã, hai bên là núi non.
Trên núi Rồng có động đá Long Quang - tức ánh sáng. Nơi cặp mắt rồng, hiện vẫn còn đề tạc nhiều bài thơ chữ Hán của thi nhân trong ngàn năm phong kiến. Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Vương Duy Trinh, Nguyễn Thượng Hiền... một thời vãn cảnh làm thơ. Hàm Rồng thực có sức hút đối với thi nhân nói riêng và người ưa thưởng lãm nói chung. Đền chùa miếu mạo cũng được xây dựng rất nhiều xung quanh non nước Hàm Rồng như một sự cầu an của nhân dân với long thần, làm tăng thêm vẻ kì thú linh thiêng. Đến đầu thế kỉ XX thêm cây cầu "cong như chiếc lược ngà" - cầu Hàm Rồng do bàn tay con người tạo nên để gắn bó không thể tách rời, nối liền khoảng cách hạt ngọc và miệng thần long ấy cũng đã kịp in dấu ấn đậm trong lòng người.
Cầu bị đánh sập năm 1947. Đến năm 1964 được xây dựng lại. Bom đạn Mĩ đánh sập 1972. Năm 1974 xây dựng lại. Bây giờ thì trên không gian thi văn lịch sử này là một bức tranh tam cầu-nhị sơn-nhất giang vừa truyền thống vừa hiện đại. Non nước trời mây, cũng như bao thắng địa trên đất nước ta đã từng là chiến địa, ghi dấu chiến công lẫy lừng trong công cuộc chống ngoại xâm. Với Hàm Rồng, đó là kháng chiến chống Mĩ làm nên kì tích anh hùng. Bắn rơi 90 máy bay Mĩ các loại.
Hàm Rồng không chỉ là thắng cảnh còn là danh lam, là di tích lịch sử, là niềm tự hào của người dân Xứ Thanh. Dù xa, bóng hình Hàm Rồng - Sông Mã là quê hương thu nhỏ lại.
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử lớp 9
>> HS tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu và đa dạng cùng chủ đề khác tại đây Viết bài văn Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử lớp 9