Đọc hiểu Đồng vọng ngược chiều
Đồng vọng ngược chiều
Đọc hiểu Đồng vọng ngược chiều được VnDoc.com sưu tầm và xin gửi tới bạn đọc cùng tham khảo. Bài viết được tổng hợp gồm có 5 câu hỏi phần đọc hiểu. Đề có đáp án và lời giải chi tiết kèm theo. Mời các bạn cùng theo dõi chi tiết bài viết dưới đây để có thêm tài liệu ôn tập phần Đọc hiểu Ngữ văn nhé.
Đề đọc hiểu Đồng vọng ngược chiều - Đề 1
Đọc đoạn trích và trả lời câu hỏi sau:
ĐỒNG VỌNG NGƯỢC CHIỀU
Theo cái gậy tre dò đường, bà lão rờ rẫm tưng bước về phía cửa ga.
Bà đi như người tập làm xiếc trên dây. Chiếc nón lá rách lướp tướp, từ bàn tay gầy guộc, lẩy bẩy của bà huơ đi huơ lại, không lúc nào yên.
Dừng lại bên đống rác lớn, bà lão bắt đầu van vỉ:
- Cháu lạy các ông các bà…Cháu mù loà già cả…Cháu xin các ông bà nhón tay làm phúc…
Không một hồi âm, ngoài tiếng vo ve của mấy con nhặng xanh đang tranh ăn trên một chiếc lá bánh. Một con chuột ngày trơ tráo bò lên bàn chân bà lão. Bà sững người. Khuôn mặt loé lên một tia sáng mỏng. Nhưng ngay sau đó, cặp mắt nặng trĩu, ầng ẫng nước của bà tối sầm lại.
Bà lão tiếp tục van vỉ. Vẫn điệp khúc cũ. Nhưng càng về sau càng thống thiết, não nề. Những câu nói rời rạc, như tự chảy ra từ khuôn mặt dúm dó, xệch xạc của bà.
Cái nón vẫn trống huếch. Một tia nắng lọt qua cái chóp thủng, xiên thẳng xuống đất, như đóng đinh bà lão xuống nền đường.
*
Nằm dưới gốc cây sấu già, bé Chi thiu thiu ngủ. Nó gối đầu trên cái túi dúm dó, khâu bằng bốn, năm loại vải cũ, sờn. Một cái bát sắt hoen gỉ, thủng đáy, nằm lăn lóc bên cạnh. Bộ ngực gầy trơ xương của con bé thắc thỏm dưới làn áo cáu bẩn, nhàu nát.
Từ sáng tới giờ chưa có chút gì trong bụng, nên bé Chi đói rũ người. Nó hy vọng giấc ngủ xua tan cái đói. Nhưng không thể được.
Mọi ngày vào tầm này, mèng ra nó cũng xin được đủ tiền mua hai cái bánh mì. Hôm nay xúi quẩy thế nào, chỉ được tờ hai trăm đồng mất góc.
Bỗng bé Chi giật thót người. Có một bàn chân nào đó giẫm lên người nó. Đang lúc đói mệt, bé Chi gầm lên:
- Mù à? Người ta nằm thế mà giẫm lên!
- Bà mù… Mù thật cháu ạ! Thôi, bà đã trót… Cho bà xin!
Lặng đi một lát, bé Chi đưa hai tay sờ mắt mình. Từ hai hốc mắt của nó, những giọt nước mắt mặn chát, rỉ ra. Nó ngập ngừng:
- Cháu... cháu xin lỗi bà! Cháu không biết là bà như thế…
Bà lão ngúc ngắc đầu như thể chấp nhận, rồi tiếp tục đi về phía có tiếng đông người. Vừa đi và lại vừa lẩm nhẩm:
- Cháu lạy các ông các bà… Cháu xin các ông bà nhón tay làm phúc… thương kẻ mù loà, khốn khổ này!
Ngẫm ngợi điều gì đó lung lắm, bé Chi lấy trong túi áo ra tờ giấy bạc hai trăm đồng mất góc, quả quyết:
- Bà ơi!… Cháu bảo này!
Bà lão dừng ngay lại. Bà nhận ra người gọi mình chính là con bé bà vừa nói chuyện. Linh cảm mách bảo bà sẽ gặp may.
- Bà ơi! Cháu… cháu biếu bà!
Khuôn mặt lộ vẻ vui mừng, bà lão chậm chạp quay trở lại, rồi chìa nón về phía gốc cây chờ đợi.
Đúng khoảnh khắc ấy, một cơn gió nhẹ ào qua. Từ trên cây sấu già, những phiến lá khô rơi xuống, khẽ khàng, đúng vào cái nón của bào lão.
Ngỡ con bé thả tiền vào nón, bà lão đưa tay quờ đi quờ lại. Một cái nhíu mày xéo ngang vừng trán nhăn nheo. Bà lão buồn bã đi tiếp về phía cửa ga. Vừa đi bà vừa thầm rủa:
- Bố con nhà mất dạy… Lừa cả người già… Rồi giời sẽ bắt tội đấy con ạ!
Ngồi ở gốc cây, bé Chi vẫn chìa đồng bạc về phía trước, vẻ thành tâm. Chờ mãi, không thấy bà lão nhận tiền, nó đứng phắt dậy thảng thốt gọi:
- Bà ơi! Cháu xin biếu bà! Thực đấy mà!
Không ai trả lời con bé. Nó đưa tay quờ quạng quanh mình. Bàn tay nó chạm phải thân cây sấu già, thô nhám.
Nhét tờ bạc vào túi áo, một tay cầm túi, một tay chống gậy, con bé mù thập thững tìm đường.
Lúc ấy là mười hai giờ trưa. Nắng mùa hạ chói chang, in hình bé Chi xuống nền đường, tròn như đồng tiền vàng.
(Lã Thế Khanh, theo vntrungtam.info)
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản Đồng vọng ngược chiều.
Câu 2. Xác định ngôi kể được tác giả sử dụng trong văn bản. Chỉ ra một câu văn thể hiện ngôi kể đó.
Câu 3. Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu văn sau: "Một tia nắng lọt qua cái chóp thủng, xiên thẳng xuống đất, như đóng đinh bà lão xuống nền đường."
Câu 4. Nhan đề của văn bản có ý nghĩa gì?
Câu 5. Qua văn bản, tác giả thể hiện tư tưởng, thông điệp gì?
Trả lời:
**Câu 1:**
Thể loại của văn bản *Đồng vọng ngược chiều* là truyện ngắn.
**Câu 2:**
Ngôi kể được tác giả sử dụng trong văn bản là ngôi thứ ba.
Câu văn thể hiện ngôi kể này là: "Bà lão tiếp tục van vỉ. Vẫn điệp khúc cũ."
**Câu 3:**
Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn "Một tia nắng lọt qua cái chóp thủng, xiên thẳng xuống đất, như đóng đinh bà lão xuống nền đường" là so sánh. Tác dụng của biện pháp này là nhằm nhấn mạnh sự cô đơn, bất lực và nỗi khổ cực của bà lão. Tia nắng ví như đóng đinh thể hiện sự gượng ép, không thể thoát khỏi tình cảnh hiện tại của bà.
**Câu 4:**
Nhan đề của văn bản có ý nghĩa thể hiện sự đồng cảm và kết nối giữa hai nhân vật mù loà (bà lão và bé Chi). "Đồng vọng" cho thấy sự đồng điệu trong hoàn cảnh bi thảm của họ; "ngược chiều" biểu thị cho sự trái ngược về tình thế và cảm xúc, khi cả hai đều trong hoàn cảnh khó khăn nhưng không thể hiểu lẫn nhau mà vẫn mong muốn giúp đỡ.
**Câu 5:**
Qua văn bản, tác giả thể hiện tư tưởng, thông điệp về lòng nhân ái và sự đau khổ của những người sống trong nghèo khổ, bất hạnh. Tác giả kêu gọi sự đồng cảm của xã hội đối với những số phận bất hạnh, đồng thời thể hiện sự trớ trêu và bi kịch của cuộc sống khi mà những nỗ lực giúp đỡ nhau lại không được thấu hiểu.
Đề đọc hiểu Đồng vọng ngược chiều - Đề 2
Đọc kĩ ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
ĐỒNG VỌNG NGƯỢC CHIỀU
(Lã Thế Khanh)
Theo cái gậy tre dò đường, bà lão rờ rẫm từng bước về phía cửa ga. Bà đi như người tập làm xiếc trên dây. Chiếc nón lá rách lướp tướp, từ bàn tay gầy guộc, lẩy bẩy của bà huơ đi huơ lại, không lúc nào yên.
Dừng lại bên đống rác lớn, bà lão bắt đầu van vỉ:
- Cháu lạy các ông các bà... Cháu mù lòa già cả... Cháu xin các ông các bà nhón tay làm phúc...
Không một hồi âm, ngoài tiếng vo ve của mấy con nhặng xanh đang tranh ăn trên một chiếc lá bánh. Một con chuột ngày trơ tráo bò lên bàn chân bà lão. Bà sững người. Khuôn mặt lóe lên một tia sáng mỏng. Bà đưa tay lần tìm từng tí trong lòng chiếc nón. Nhưng ngay sau đó, cặp mắt nặng trĩu, ầng ậng nước của bà tối sầm lại.
Bà lão tiếp tục van vỉ. Vẫn điệp khúc cũ. Nhưng càng về sau càng thống thiết, não nề. Những câu nói rời rạc, như tự chảy ra từ khuôn miệng dúm dó, xệch xạc của bà. Cái nón vẫn trống huếch. Một tia nắng lọt qua cái chóp thủng, xiên thẳng xuống đất, như đóng đinh bà lão xuống nền đường.
Nằm dưới gốc cây sấu già, bé Chi thiu thiu ngủ. Nó gối đầu trên cái túi dúm dó, khâu bằng bốn, năm loại vải cũ, sờn. Một cái bát sắt hoen gỉ, thủng đáy, nằm lăn lóc bên cạnh. Bộ ngực gầy trơ xương của con bé thắc thỏm dưới làn áo cáu bẩn, nhàu nát.
Từ sáng tới giờ chưa có chút gì trong bụng, nên bé Chi đói rũ người. Nó hy vọng giấc ngủ xua tan cái đói. Nhưng không thể được.
Mọi ngày vào tầm này, mèng ra nó cũng xin được đủ tiền mua hai cái bánh mì. Hôm nay xúi quẩy thế nào, chỉ được tờ hai trăm đồng mất góc.
Bỗng bé Chi giật thót người. Có một bàn chân nào đó giẫm lên người nó. Đang lúc đói mệt, bé Chi gầm lên:
- Mù à? Người ta nằm thế mà giẫm lên!
- Bà mù... Mù thật cháu ạ! Thôi, bà đã trót... Cho bà xin!
Lặng đi một lát, bé Chi đưa hai tay sờ mắt mình. Từ hai hốc mắt của nó, những giọt nước mắt mặn chát, rỉ ra. Nó ngập ngừng:
- Cháu... Cháu xin lỗi bà! Cháu không biết là bà như thế...
Bà lão ngúc ngắc đầu như thể chấp nhận, rồi tiếp tục đi về phía có tiếng đông người. Vừa đi bà lại vừa lẩm nhẩm:
- Cháu lạy các ông các bà... Cháu xin các ông các bà nhón tay làm phúc... thương kẻ mù lòa, khốn khổ này!
Ngẫm ngợi điều gì đó lung lắm, bé Chi lấy trong túi áo ra tờ giấy bạc hai trăm đồng mất góc, quả quyết: Bà ơi!... Cháu bảo này!
Bà lão dừng ngay lại. Bà nhận ra người gọi mình chính là con bé bà vừa nói chuyện. Linh cảm mách bảo bà sẽ gặp may.
- Bà ơi! Cháu... cháu biếu bà!
Khuôn mặt lộ vẻ vui mừng, bà lão chậm chạp quay trở lại, rồi chìa nón về phía gốc cây chờ đợi.
Đúng khoảnh khắc ấy, một cơn gió nhẹ ào qua. Từ trên cây sấu già, những phiến lá khô rơi xuống, khẽ khàng, đúng vào cái nón của bà lão.
Ngỡ con bé thả tiền vào nón, bà lão đưa tay quờ đi quờ lại. Một cái nhíu mày xéo ngang qua vừng trán nhăn nheo. Bà lão buồn bã đi tiếp về phía cửa gạ. Vừa đi bà vừa thầm rủa:
- Bố con nhà mất dạy... Lừa cả người già... Rồi giời sẽ bắt tội đấy con ạ!
Ngồi ở gốc cây, bé Chi vẫn chìa đồng bạc về phía trước, vẻ thành tâm. Chờ mãi, không thấy bà lão nhận tiền, nó đứng phắt dậy, thảng thốt gọi:
- Bà ơi! Cháu xin biếu bà! Thực đấy mà!
Không ai trả lời con bé. Nó đưa tay quờ quạng quanh mình. Bàn tay nó chạm phải thân cây sấu già, thô nhám.
Nhét tờ bạc vào túi áo,một tay cầm túi, một tay chống gậy, con bé mù thập thững tìm đường. Lúc ấy là mười hai giờ trưa. Nắng mùa hạ chói chang, in hình bé Chi xuống nền đường, tròn như đồng tiền vàng…
(Nguồn dẫn: "40 truyện rất ngắn", NXB Hội nhà văn, tạp chí Thế giới mới, 1994)
Câu 1: Văn bản trên được viết theo thể loại nào?
Câu 2: Đề tài được đề cập trong văn bản là gì?
Câu 3: “Nằm dưới gốc cây sấu già, bé Chi thiu thiu ngủ. Nó gối đầu trên cái túi dúm dó, khâu bằng bốn, năm loại vải cũ, sờn. Một cái bát sắt hoen gỉ, thủng đáy, nằm lăn lóc bên cạnh. Bộ ngực gầy trơ xương của con bé thắc thỏm dưới làn áo cáu bẩn, nhàu nát.”
Nêu và chỉ rõ phép phép liên kết nào được sử dụng trong đoạn văn trên?
Mời các bạn cùng tải về bản DOC hoặc PDF để xem đầy đủ nội dung