Đọc hiểu Mãi mãi tuổi hai mươi
Mãi mãi tuổi hai mươi
Đọc hiểu Mãi mãi tuổi hai mươi - Đặng Vương Hưng là tài liệu hữu ích giúp bạn đọc có thể trau dồi nội dung kiến thức và có thêm tài liệu học tập môn Ngữ văn. Bài viết được tổng hợp gồm có 6 câu hỏi phần đọc hiểu. Đề có đáp án và lời giải chi tiết kèm theo. Mời các bạn cùng theo dõi chi tiết bài viết dưới đây để có thêm tài liệu ôn tập phần Đọc hiểu Ngữ văn nhé.
Đề đọc hiểu Mãi mãi tuổi hai mươi - Đề 1
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
2.10.1971
Nhiều lúc mình không ngờ nổi rằng mình đã đến đây. Không ngờ rằng trên mũ là một ngôi sao. Trên cổ áo là quân hàm đỏ. Cuộc đời bộ đội đến với mình tự nhiên quá, bình thản quá, và cũng đột ngột quá.
Thế là thế nào? Cách đây ít lâu mình còn là sinh viên. Bây giờ thì xa vời lắm rồi những ngày cắp sách lên giảng đường, nghe thầy Đường, thầy Đạo... Không biết bao giờ mình sẽ trở lại những ngày như thế. Hay chẳng còn bao giờ nữa! Có thể lắm. Mình đã lớn rồi. Học bao lâu, mà đã làm được gì đâu, đã sống được gì đâu? Chỉ còm cõi vì trang sách, gầy xác đi vì mộng mị hão huyền.
28 ngày trong quân ngũ, mình hiểu được nhiều điều có ích. Sống được nhiều ngày có ý nghĩa. Dọc đường hành quân, có dịp xem lại lòng mình, soát lại lòng mình.
Mình bắt đầu sống có trách nhiệm từ đâu, từ lúc nào? Có lẽ từ 9.3.71 tháng 3 của hoa nhãn ban trưa, của hoa sấu, hoa bằng lăng nước.
...Trên mũ là ngôi sao. Ta lặng ngắm ngôi sao, như hồi nào ta chỉ cho bạn: Kia là ngôi sao Hôm yêu dấu... Nhưng khác hơn một chút. Bây giờ, ta đọc trong ngôi sao ấy, ánh lửa cầu vồng của trận công đồn, màu đỏ của lửa, của máu…
Ta như thấy trong màu kì diệu ấy có cả hồng cầu của trái tim ta.
(Trích Mãi mãi tuổi hai mươi, nhật kí của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc)
Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích trên.
Câu 2: Phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên là gì?
Câu 3: Nội dung của đoạn trích trên là gì?
Câu 4: Nhìn những ngôi sao trên mũ, tác giả đọc được những gì? Ý nghĩa của những hình ảnh đó?
Câu 5: Tại sao tác giả viết: “Học bao lâu, mà đã làm được gì đâu, đã sống được gì đâu?”?
Câu 6: Tác giả muốn gửi gắm thông điệp gì qua đoạn trích
Đáp án
Câu 1: Phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích là: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.
Câu 2: Phương thức biểu đạt trong đoạn trích là: tự sự
Câu 3: Nội dung của đoạn trích trên: những ngày làm bộ đội, cậu sinh viên đã hiểu rõ thật nhiều điều về cuộc sống
Câu 4: – Nhìn ngôi sao trên mũ, tác giả thấy:
Ánh lửa cầu vồng.
Màu đỏ của lửa, của máu.
Hồng cầu của trái tim.
– Ý nghĩa: Biểu thị cho ngọn lửa đấu tranh, sức mạnh quật cường; nhiệt huyết tuổi trẻ và tinh thần sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc; lí tưởng cao đẹp, khát vọng cống hiến cho Tổ quốc, nhân dân.
Câu 5: – Tác giả viết: Học bao lâu, mà đã làm được gì đâu, đã sống được gì đâu? vì:
Việc học chỉ có ý nghĩa khi nó được áp dụng vào cuộc sống.
Sự sống không phải chỉ biết cho cá nhân mình.
Khi Tổ quốc lên tiếng gọi tuổi trẻ sẵn sàng xếp bút nghiên lên đường vì Tổ quốc…
Câu 6: Thông điệp của đoạn trích mà tác giả muốn gửi gắm là: bản thân mỗi cá nhân phải sống có ích và có trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc.
Đề đọc hiểu Mãi mãi tuổi hai mươi - Đề 2
2.10.1971
Nhiều lúc mình không ngờ nổi rằng mình đã đến đây. Không ngờ rằng trên mũ là một ngôi sao. Trên cổ áo là quân hàm đỏ. Cuộc đời bộ đội đến với mình tự nhiên quá, bình thản quá, và cũng đột ngột quá.
Thế là thế nào? Cách đây ít lâu mình còn là sinh viên. Bây giờ thì xa vời lắm rồi những ngày cắp sách lên giảng đường, nghe thầy Đường, thầy Đạo… Không biết bao giờ mình sẽ trở lại những ngày như thế. Hay chẳng còn bao giờ nữa! Có thể lắm. Mình đã lớn rồi. Học bao lâu, mà đã làm được gì đâu, đã sống được gì đâu? Chỉ còm cõi vì trang sách, gầy xác đi vì mộng mị hão huyền.
28 ngày trong quân ngũ, mình hiểu được nhiều điều có ích. Sống được nhiều ngày có ý nghĩa. Dọc đường hành quân, có dịp xem lại lòng mình, soát lại lòng mình.
Mình bắt đầu sống có trách nhiệm từ đâu, từ lúc nào? Có lẽ từ 9.3.71 tháng 3 của hoa nhãn ban trưa, của hoa sấu, hoa bằng lăng nước.
…Trên mũ là ngôi sao. Ta lặng ngắm ngôi sao, như hồi nào ta chỉ cho bạn: Kia là ngôi sao Hôm yêu dấu… Nhưng khác hơn một chút. Bây giờ, ta đọc trong ngôi sao ấy, ánh lửa cầu vồng của trận công đồn, màu đỏ của lửa, của máu…
Ta như thấy trong màu kì diệu ấy có cả hồng cầu của trái tim ta.
(Trích Mãi mãi tuổi hai mươi, nhật kí của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc)
Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích trên. (0,5 điểm)
Câu 2: Nhìn những ngôi sao trên mũ, tác giả đọc được những gì? Ý nghĩa của những hình ảnh đó? (1,0 điểm)
Câu 3: Tại sao tác giả viết: “Học bao lâu, mà đã làm được gì đâu, đã sống được gì đâu?”?
Câu 4: Thông điệp nào của đoạn trích trên có ý nghĩa nhất với anh/chị? (0,5 điểm)
Câu 1
– Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.
Câu 2
– Nhìn ngôi sao trên mũ, tác giả thấy:
+ Ánh lửa cầu vồng.
+ Màu đỏ của lửa, của máu.
+ Hồng cầu của trái tim.
– Ý nghĩa: Biểu thị cho ngọn lửa đấu tranh, sức mạnh quật cường; nhiệt huyết tuổi trẻ và tinh thần sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc; lí tưởng cao đẹp, khát vọng cống hiến cho Tổ quốc, nhân dân.
Câu 3
– Tác giả viết: Học bao lâu, mà đã làm được gì đâu, đã sống được gì đâu? vì:
+ Việc học chỉ có ý nghĩa khi nó được áp dụng vào cuộc sống.
+ Sự sống không phải chỉ biết cho cá nhân mình.
+ Khi Tổ quốc lên tiếng gọi tuổi trẻ sẵn sàng xếp bút nghiên lên đường vì Tổ quốc…
Câu 4
Thông điệp của đoạn trích: Tuổi trẻ phải biết sống, biết cống hiến, biết hi sinh cho Tổ quốc…
Đề đọc hiểu Mãi mãi tuổi hai mươi - Đề 3
Đọc văn bản và thực hiện các câu hỏi:
7/1/1972
Cái đẹp đẽ của cuộc đời, cái tươi mới của cuộc đời nhất định không đến khi anh bo bo giữ gìn cái “tôi” của mình. Cũng có một thời kỳ như thế, mình luôn luôn lo lắng cho bản thân. Mình luôn hướng tới tương lai. Nhưng tương lai trong suy nghĩ của mình là một màu hồng rực rỡ pha chút gì ánh biếc phù hoa. Cái tương lai đó bó hẹp trong 1 hạnh phúc ngọt ngào, trong 1 niềm mê say học tập, nhưng học để mà học, để mà “có triển vọng”, nhưng mãi không thấy chút thành quả gì. Bởi ước mơ phù phiếm nên khi vấp phải thực tại khô khốc, mình chưa kịp quen ngay. Không ít thanh niên sớm chán nản với cuộc sống này, muốn trốn tránh, muốn hưởng thụ mặc dù bản thân mình chưa cống hiến được chút gì. Hình như mình cũng thuộc vào loại đó. Chán nản, buồn, buồn lắm, mênh mông như buổi tối tắt đèn…
Gặp nhiều người chán nản như thế, mình tự rút cho bản thân một điều quan trọng: Mình giống họ ư? Chẳng lẽ mình giống họ trong cái bi quan, hèn mạt ấy chăng?
Những ngày đó qua rồi. Mỗi ngày lại thêm một ngày đẹp đẽ. Ao ước gì ở ngày mai khi hôm nay được nhìn, được cảm cuộc sống xôn xao của dân tộc. Cô gái mặc áo da trời bơm thuốc trừ sâu, những gánh bùn lên cải tạo ruộng đồng sau trận lụt, và luỹ tre thân thuộc, bốn mùa lúc nào lá cũng xanh, lúc nào cũng thì thào muôn điều kỳ lạ...
Cảm ơn Tổ quốc, cảm ơn những cánh cò trắng muốt của ca dao cho ta niềm hạnh phúc, cho ta niềm tự hào.
Ta lớn dần lên với tuổi, với cuộc chiến đấu này. Bao giờ để ta hoàn toàn có thể xoa tay mà hài lòng với cuộc sống của mình? Còn lâu, lâu lắm... Nhưng bước đầu này sung sướng biết bao. Tổ quốc vẫn dựng xây và đánh giặc hai hòn gạch vẫn gắn chặt vào nhau nhờ nhiệt tình của con người cộng sản... Trong ngôn ngữ của ta bớt dần tiếng tôi, tiểu đội, trung đội; Ta muốn nói đến những Trung đoàn, những Sư đoàn gang thép... Dân tộc ta đã lớn lên.
Trên đầu ta đã có nhiều sợi bạc. Không, ta không gọi đó là tóc bạc; Có chút gì phôi pha trong từ ngữ đó. Ta muốn gọi đó là những sợi tóc trắng, những sợi tóc trắng trong... bởi những gì đẹp đẽ trong ta có bao giờ phai nhoà cho được.
(Trích Mãi mãi tuổi hai mươi, Nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc(*), Đặng Vương Hưng sưu tầm, giới thiệu, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2005, trang 127, 128)
Câu 1: Xác định thể loại của văn bản.
Câu 2: Chỉ ra một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn sau:
“Những ngày đó qua rồi. Mỗi ngày lại thêm một ngày đẹp đẽ. Ao ước gì ở ngày mai khi hôm nay được nhìn, được cảm cuộc sống xôn xao của dân tộc. Cô gái mặc áo da trời bơm thuốc trừ sâu, những gánh bùn lên cải tạo ruộng đồng sau trận lụt, và luỹ tre thân thuộc, bốn mùa lúc nào lá cũng xanh, lúc nào cũng thì thào muôn điều kỳ lạ...
Cảm ơn Tổ quốc, cảm ơn những cánh cò trắng muốt của ca dao cho ta niềm hạnh phúc, cho ta niềm tự hào.”
Câu 3: Phân tích tác dụng của cách trần thuật được tác giả sử dụng trong đoạn văn sau:
Trên đầu ta đã có nhiều sợi bạc. Không, ta không gọi đó là tóc bạc; Có chút gì phôi pha trong từ ngữ đó. Ta muốn gọi đó là những sợi tóc trắng, những sợi tóc trắng trong... bởi những gì đẹp đẽ trong ta có bao giờ phai nhoà cho được.
Câu 4: Giá trị sống mà tuổi trẻ học hỏi được qua văn bản.
Câu 5: Nhận xét về cái tôi tác giả trong văn bản
Câu 6: Trình bày sự hiểu biết của anh (chị) về thế hệ thanh niên Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước qua văn bản trên.
Đáp án đề đọc hiểu Mãi mãi tuổi hai mươi
Câu 1: Thể loại văn bản: nhật kí
Câu 2:
+Ẩn dụ: “Cuộc sống xôn xao của dân tộc”
+Nhân hóa: “Lũy tre … thì thào muôn điều kì lạ”
+Điệp từ ngữ: lúc nào, cũng, cảm ơn, cho ta,
Câu 3: Tác dụng của cách trần thuật trong đoạn
- Trần thuật theo ngôi thứ nhất, xưng “ta”, người trần thuật là liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc.
- Tác dụng:
+ Thể hiện tính chân thực, tăng độ tin cậy của những chi tiết, sự kiện được trần thuật.
+ Thể hiện những suy nghĩ tích cực, cảm xúc lạc quan của cá nhân tác giả.
Câu 4:
+ Sống lạc quan, cống hiến, phấn đấu
+ Yêu Tố quốc, tự hào, biết ơn Tổ quốc.
Câu 5:
+ Cái “tôi” luôn trăn trở về lẽ sống
+ Cái “tôi” đấu tranh với lối sống ích kỉ để vươn tới lẽ sống cao đẹp: có ý thức trách nhiệm, giàu niềm tin yêu, luôn tự hào về Tổ quốc
+ Cái “tôi” trẻ tuổi giàu cảm xúc, lạc quan, hướng đến tương lai tốt đẹp
Câu 6: Qua văn bản, hình ảnh thế hệ thanh niên Việt Nam thời chống Mĩ hiện lên thật cao đẹp và đáng tự hào. Họ là những con người luôn trăn trở, suy tư về lẽ sống, không ngừng đấu tranh để vượt lên những toan tính cá nhân, ích kỷ, nhỏ bé để hòa cái "tôi" của mình vào cái "ta" chung của cộng đồng, dân tộc. Sống giữa hiểm nguy, gian khổ của chiến tranh nhưng họ vẫn giữ trọn một trái tim giàu mơ ước và một niềm tin tưởng lạc quan, vững chắc vào tương lai tươi
sáng của đất nước. Tất cả những điều đó đều bắt nguồn từ một tình yêu Tổ quốc thiêng liêng, sâu sắc, thôi thúc họ sẵn sàng ra trận, cống hiến và hi sinh tuổi thanh xuân của mình cho độc lập, tự do của dân tộc. Họ chính là hình mẫu lí tưởng về con người mới, sống đẹp và anh dũng của một thời đại hào hùng.