Truyền thống Uống nước nhớ nguồn lớp 4 trang 62 Kết nối tri thức Tập 2
Nói và nghe: Truyền thống Uống nước nhớ nguồn lớp 4 Kết nối tri thức
Bản quyền tài liệu thuộc về VnDoc, nghiêm cấm các hành vi sao chép với mục đích thương mại.
Bài soạn gồm các câu trả lời chi tiết, đầy đủ và chính xác bám sát các yêu cầu trong sách giáo khoa thuộc bài Nói và nghe: Truyền thống Uống nước nhớ nguồn lớp 4 Kết nối tri thức. Cùng với đó, VnDoc còn cung cấp các dàn ý, đoạn văn, bài văn mẫu hay và đa dạng để giúp Học sinh hiểu sâu hơn và nắm chắc kiến thức của bài học này.
Yêu cầu: Thuật lại một sự việc thể hiện truyền thống Uống nước nhớ nguồn và chia sẻ suy nghĩ, cảm xúc của mình về sự việc đó.
Câu 1 trang 62 Tiếng Việt lớp 4 Tập 2 Kết nối tri thức: Nói:
- Dựa vào dàn ý đã lập ở hoạt động Viết, em hãy thuật lại sự việc theo yêu cầu.
- Khi nói, em cần kết hợp thể hiện suy nghĩ, cảm xúc của mình qua giọng nói, cử chỉ, điệu bộ,…
- Em có thể kết hợp giới thiệu tranh ảnh, video,… ghi lại việc làm thể hiện truyền thống Uống nước nhớ nguồn mà em đã tham gia hoặc chứng kiến.
Trả lời:
HS thực hành nói dựa trên các gợi ý đã cho và phần nội dung đã trình bày trong bài viết.
>> Tham khảo các bài nói hay tại đây:
- Bài văn thuật lại một sự việc thể hiện truyền thống Uống nước nhớ nguồn Ngắn gọn
- Viết bài văn thuật lại một sự việc thể hiện truyền thống Uống nước nhớ nguồn
Câu 2 trang 62 Tiếng Việt lớp 4 Tập 2 Kết nối tri thức: Trao đổi, góp ý.
- Nội dung sự việc thể hiện truyền thống Uống nước nhớ nguồn.
- Trình tự của sự việc đúng với thực tế.
- Suy nghĩ, cảm xúc của người nói được thể hiện qua lời nói, giọng nói, cử chỉ, điệu bộ,…
Trả lời:
HS thực hành trao đổi, góp ý ở lớp theo các hướng dẫn trên và nhận xét, đánh giá của giáo viên.
Vận dụng
- Chia sẻ với người thân suy nghĩ, cảm xúc của mình về những việc làm góp phần gìn giữ truyền thống Uống nước nhớ nguồn.
- Tìm đọc một câu chuyện về lòng biết ơn.
Trả lời:
1. Gợi ý:
Em rất yêu thích các hoạt động góp phần gìn giữ truyền thống Uống nước nhớ nguồn. Bởi đây là những việc làm ý nghĩa, tiếp nối truyền thống quý báu của dân tộc ta. Khi tìm hiểu về các hoạt động này, em rất mong muốn được trực tiếp tham gia, đóng góp một phần sức lực của mình cho những hoạt động ý nghĩa như thế.
2. Gợi ý:
Ba cô gái
Ngày xưa, có một bà mẹ sinh được ba cô con gái. Bà phải làm việc vất vả để nuôi các con mình. Ba cô con gái lớn nhanh và cả ba cô đều xinh đẹp như mặt trăng. Sau đó ba cô đều đi lấy chồng và ở riêng không ở nhà với mẹ nữa.
Năm tháng trôi qua, bà mẹ già ốm nặng, bà nhờ một chú Sóc hung đến gặp các con của bà. Bà dặn:
– Hãy bảo các con ta đến ngay với ta nhé!
Khi nhận được tin mẹ ốm, cô chị cả thở dài, nói với Sóc hung:
– Ôi! Chị cũng muốn đến ngay lập tức với mẹ, nhưng trước mắt, chị còn phải đi cọ hai cái chậu này đã! Cọ hai cái chậu đã!
Chú Sóc hung giận giữ kêu lên!
– Vậy thì hãy cử ở trong hai cái chậu ấy suốt đời!
Hai cái chậu nhảy từ trên bà xuống, úp chụp vào cổ chị cả. Cô này ngã ra đất và bị hóa thành một con rùa sống trong cái mai của nó (là cái chậu đã úp chặt).
Chú Sóc hung lại đến gõ cửa nhà cô gái thứ hai. Cô này trở lời:
– A! Chị sẽ chạy đến ngay với mẹ nếu chị không phải bận dệt vải để đem đi chợ bán!
– Nếu vậy thì chị đi mà dệt vải suốt đời! Sóc hung nói dứt lời, cô gái thứ hai biến thành một con nhện.
Khi Sóc hung đến báo tin cho cô con gái út thì cô này đang nhào bột. Không kịp nói một lời, không kịp rửa tay, cô gái vội vàng đi đến với mẹ. Sóc hung âu yếm nói:
– Chị sẽ luôn đem lại cho mọi người niềm vui và sự dịu dàng. Mãi mãi, chị và các con cháu của chị sẽ được mọi người yêu mến.
Thật vậy, người con gái út sống rất lâu, được tất cả mọi người thương yêu, và sau khi chết, cô gái viến thành con ong. Suốt mùa hè, ong đi hút mật cho người và đến mùa đông lạnh buốt, ong có thể yên tâm ở trong tổ của mình, ấm áp và đầy mật thơm ngon.