Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3: Sự việc và nhân vật trong Văn tự sự

13 1.072

Ngữ văn lớp 6 bài 3: Sự việc và nhân vật trong Văn tự sự

Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3: Sự việc và nhân vật trong Văn tự sự. Đây là tài liệu tham khảo hay được VnDoc.com sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo

Sự việc và nhân vật trong Văn tự sự

I. Kiến thức cơ bản

• Sự việc trong văn tự sự được trình bày một cách cụ thể: Sự việc xảy ra trong thời gian, địa điểm cụ thể, do nhân vật cụ thể thực hiện, có nguyên nhân, diễn biến, kết quả. Sự việc trong văn tự sự được sắp xếp theo một trật tự, diễn biến sao cho thể hiện được tư tưởng mà người kể muốn biểu đạt.

• Nhân vật trong văn tự sự là người thực hiện các sự việc và là người được thể hiện trong văn bản. Nhân vật chính đóng vai trò chủ yếu thể hiện tư tưởng của văn bản. Nhân vật phụ chỉ giúp nhân vật chính hoạt động. Nhân vật được thể hiện qua các mặt: tên gọi, lai lịch, tính nết, hình dáng, việc làm.

II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học

1. Đặc điểm của sự việc trong văn tự sự

Câu a

 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3: Sự việc và nhân vật trong Văn tự sự

Câu b

+ Sáu yếu tố cơ bản của văn tự sự:

• Yếu tố 1: Nhân vật (do ai làm) -> Sơn Tinh, Thuỷ Tinh.

• Yếu tố 2: Thời gian (xảy ra lúc nào) — Đời vua Hùng Vương thứ 18.

Yếu tố 3: Địa điểm (xảy ra ở đâu) -> Hai bên đánh nhau ở Phong Châu.

• Yếu tố 4: Nguyên nhân -> Do Thuỷ Tinh đến sau không lấy được vợ, nổi giận dâng nước đánh Sơn Tinh.

• Yếu tố 5: Diễn biến -> Trận giao chiến diễn ra ròng rã mấy tháng trời, lại tiếp tục xảy ra hàng năm.

• Yếu tố 6: Kết quả → Thuỷ Tinh thất bại.

+ Không thể bỏ yếu tố thời gian và địa điểm trong truyện được. Bởi vì: Nếu bỏ đi người đọc sẽ không hiểu được truyện xảy ra vào lúc nào, ở đâu? Không thấy tính hợp lí của câu chuyện với thời đại.

+ Việc giới thiệu Sơn Tinh có tài là cần thiết, bởi nó thể hiện ước mơ của nhân dân và làm tăng tính kì ảo của nhân vật.

+ Thuỷ Tinh nổi giận là hoàn toàn có lí -> yếu tố quan trọng để phát triển truyện.

• Lí do đó được thể hiện ở sự kiện: Thuỷ Tinh đến sau không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo đòi cướp Mị Nương.

Câu c.

+ Sự việc thể hiện mối thiện cảm của vua Hùng đối với Sơn Tinh.

• Sơn Tinh ở vùng núi Tản Viên, những đồ sính lễ mà vua Hùng ra điều kiện đều là sản phẩm ở rừng núi: “Cơm nếp, bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao”.

+ Việc Sơn Tinh thắng Thuỷ Tinh (Lần giao chiến đầu tiên và sau đó mỗi năm một lần) điều đó thể hiện ước mơ chế ngự và chiến thắng lũ lụt của cha ông ta ngày xưa.

+ Không thể để cho Thuỷ Tinh thắng Sơn Tinh vì điều đó không phản ánh được khát vọng và sức mạnh của con người trong công cuộc đấu tranh với thiên nhiên.

+ Cũng không thể xoá bỏ sự việc hàng năm Thuỷ Tinh lại dâng nước đánh Sơn Tinh --> Vì điều đó nhằm giải thích hiện tượng lũ lụt xảy ra hàng năm.

2. Nhân vật trong văn tự sự

Câu a

Nhân vật trong văn tự sự vừa là kẻ thực hiện các sự việc, vừa là kẻ được nói tới nhiều nhất (có thể biểu dương hoặc lên án).

+ Tên các nhân vật tự sự trong truyện “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh”: Vua Hùng, Mị Nương, Sơn Tinh, Thuỷ Tinh.

+ Nhân vật chính có vai trò quan trọng nhất là Sơn Tinh, Thuỷ Tinh.

+ Nhân vật phụ là vua Hùng, và Mị Nương, nhân vật phụ cũng cần thiết, ta không thể bỏ được, nhân vật phụ giúp cho nhân vật chính hoạt động.

Câu b

Tính chất miêu tả cụ thể của nhân vật được thể hiện:

+ Tên gọi: Vua Hùng, Mị Nương, Sơn Tinh, Thuỷ Tinh.

+ Lai lịch: Mị Nương con gái vua Hùng thứ 18. Sơn Tinh thần núi Tản, Thuỷ Tinh thần nước thẳm.

+ Tính tình: Mị Nương nết na hiền dịu.

+ Tài năng: Sơn Tinh dời núi, nổi cồn, Thuỷ Tinh tài hô mưa gọi gió.

+ Việc làm, hành động, ý nghĩ, lời nói:

– Việc làm

• Sơn Tinh: Vẫy tay về phía đông... vẫy tay về phía tây.

• Thuỷ Tinh: Gọi gió, hô mưa.

– Hành động

• Thuỷ Tinh: Đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo đòi cướp Mị Nương. Hô mưa, gọi gió làm thành dông bão…

• Sơn Tinh: Dùng phép bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi dựng thành lũy đất.

- Ý nghĩ

Vua Hùng băn khoăn không biết nhận lời ai, từ chối ai.

- Lời nói

• Sơn Tinh, Thuỷ Tinh: Hai chàng tâu hô đồ sính lễ sắm những gì

• Vua Hùng: Vua bảo: “Một trăm ván cơm nếp...”

III. Hướng dẫn luyện tập

Câu 1a). Xem phần bài học

1b) Tóm tắt truyện “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh” theo sự việc gắn với các nhân vật chính. Hùng Vương thứ mười tám kén rể cho công chúa Mị Nương xinh đẹp. Cùng một lúc có Sơn Tinh, Thuỷ Tinh đến cầu hôn. Cả hai đều tài giỏi, phân vân không biết chọn ai, vua ra điều kiện: Ai đem sính lễ đến trước vào ngày hôm sau sẽ được lấy Mị Nương. Sơn Tinh đến trước được rước Mị Nương về. Thuỷ Tinh đến sau đùng đùng nổi giận dâng nước đánh Sơn Tinh, nhưng thất bại đành rút lui.

Từ đấy hàng năm, không quên mối oán hận, Thuỷ Tinh lại dâng nước đánh Sơn Tinh.

Ic). Tại sao truyện lại gọi là Sơn Tinh, Thuỷ Tinh? Nếu đổi bằng các tên sau có được không?

+ Lí do đặt tên chuyện là “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh” vì: Đây là hai đối tượng được nói đến nhiều nhất, giữ vai trò hoạt động chủ yếu trong diễn biến của cốt truyện => Nhân vật chính của câu chuyện, chọn tên nhân vật để đặt cho tiêu đề tác phẩm là hợp lí.

+ Nếu ta thay thế bằng các tựa đề:

a) Vua Hùng kén rể

b) Truyện vua Hùng, Mị Nương, Sơn Tinh và Thuỷ Tinh

c). Bài ca chiến công của Sơn Tinh -> Các tựa trên thiếu tính khái quát toàn diện nội dung tác phẩm (a) và (c) còn tiêu đề (b) dài dòng không cần thiết.

Câu 2. Cho nhan đề truyện: Một lần không vâng lời. Em hãy tưởng tượng để kể một câu chuyện theo nhan đề ấy.

Bài làm tham khảo

Một lần không vần lời

Nam là học sinh lớp 6A. Tính Nam rất hiếu động nên hôm qua, trước khi đi chợ xa mẹ dặn Nam: “Ở nhà một mình con chớ nghịch ngợm và đặc biệt không được trèo cây, vì trèo cây là nguy hiểm lắm đó!” Nam trả lời mẹ: “Dạ con nhớ mẹ ạ”. Thế nhưng mẹ vừa ra khỏi nhà Nam đã quên ngay lời mẹ dặn chạy tót ra vườn chơi. Ra đến vườn Nam đi hết gốc cây này sang gốc cây khác, chợt Nam nhìn thấy trên một cành xoài cao có một quả đã ửng vàng. Xoài đầu mùa ngon tuyệt! Nam không nín được cơn thèm! Thế là việc trèo cây bắt đầu.

Nam bám hai tay vào thân xoài và quặp hai bàn chân vào phía dưới rồi cứ thế nhích lên từng đoạn một. Khi một tay đã níu được một cành xoài lớn. Nam đu người lên rồi đứng thẳng lên cành xoài. Nam với tay ra hái trái xoài chín nhưng trái xoài nằm ở cành trên, với không tới. Nam lại phải trèo tiếp lên cao rồi nhoài người ra hái trái xoài treo đung đưa ở đầu cành. Khi tay Nam vừa đụng vào trái xoài chín, cảm giác sung sướng chưa kịp đến thì bỗng rắc một cái, cành cây mà Nam đang đứng gẫy gục. Nam tuột tay rơi bịch xuống đất, nằm sõng soài bất tỉnh. Lát sau Nam tỉnh lại thì thấy đùi trái đau nhức. Nam lê lết mãi mới vào được trong nhà bò lên giường nằm. Khi mẹ về thì chân Nam lại càng đau. Nam rên lên vì đau đớn. Mẹ hoảng hốt đưa Nam đi bệnh viện, sau khi chụp X quang xong bác sĩ bảo: Xương đùi trái bị gẫy phải bó bột”. Hơn hai tháng trời mẹ phải ròng rã chở Nam vào tận cửa lớp, rồi lại vào tận cửa để đón Nam về. Đến lớp Nam phải ngồi bất động một chỗ nhìn bạn bè vui đùa mà lòng khát khao biết mấy. Sau lần gẫy xương đó Nam ân hận vô cùng vì đã không nghe lời mẹ. Nam tự hứa, sẽ không bao giờ dám trái lời ba mẹ nữa.

(Theo Trần Công Tùng, Lê Thuý Nga - Học tốt ngữ văn 6)

 Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3

Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 3: Nghĩa của Từ

Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 6: Thạch Sanh

Đánh giá bài viết
13 1.072
Học tốt Ngữ Văn 6 Xem thêm