Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 7: Em bé thông minh

1 306

Ngữ văn lớp 6 bài 7: Em bé thông minh

Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 7: Em bé thông minh. Đây là tài liệu tham khảo hay được VnDoc.com sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo

EM BÉ THÔNG MINH

I. Kiến thức cơ bản

Đây là truyện cổ tích về nhân vật thông minh – kiểu nhân vật rất phổ biến trong cổ tích Việt Nam và thế giới. Truyện đề cao sự thông minh và trí khôn dân gian (qua hình thức giải những câu đố, vượt những thách đố oái ăm...) từ đó tạo nên tiếng cười vui vẻ, hồn nhiên trong đời sống hàng ngày.

II. Hướng dẫn đọc - hiểu văn bản

Câu 1. Dùng hình thức câu đố để thử tài nhân vật có phổ biến trong truyện cổ tích không? Tác dụng của hình thức này?

+ Dùng câu đối để thử tài nhân vật là hình thức phổ biến trong các truyện cổ tích.

+ Tác dụng:

– Tạo nên sự hấp dẫn, cuốn hút người đọc.

– Tạo ra tình huống để phát triển cốt truyện từ đơn giản đến phức tạp.

- Bộc lộ phẩm chất, trí tuệ của nhân vật.

Câu 2. Sự mưu trí thông minh của em bé được thử thách qua mấy lần? Lần sau có khó khăn hơn lần trước không?

+ Sự mưu trí của cậu bé được thử thách qua bốn lần.

- Lần thứ nhất: Khi viên quan hỏi cha cậu cày mỗi ngày được mấy đường.

- Lần thứ hai: Nhà vua bắt dân làng cậu bé nuôi trâu đực phải đẻ được bê con.

- Lần thứ ba: Một con chim sẻ phải dọn thành ba cỗ bàn thức ăn

- Lần thứ tư: Câu đố hóc búa của sứ thần xâu sợi chỉ mềm qua đường ruột ốc xoắn dài.

+ Những thử thách càng ngày càng khó:

- Lần thứ nhất: Là lời đố của viên quan chỉ liên quan đến hai bố con.

- Lần thứ hai: Lời đố của nhà vua liên quan đến cả dân làng.

- Lần thứ ba: Cũng là của vua, có mục đích khẳng định thực tài của cậu bé.

- Lần thứ tư: Là của viên sứ thần, nó không chỉ là thách đố với bản thân mà còn danh dự của cả dân tộc.

Câu 3. Trong mỗi lần thử thách, em bé đã dùng những cách gì để giải những câu đố oái ăm? Theo em những cách ấy lí thú ở chỗ nào?

Những cách vượt qua thử thách của cậu bé thông minh:

+ Lần thứ nhất: Cậu đã hoá giải lời đố của viên quan bằng chiêu thức “gậy ông lại đập lưng ông” bằng cách hỏi lại: “Ngựa của ông đi một ngày được mấy bước”, dồn đối phương vào thế bí. Sự đối vô cùng nhanh nhạy tạo nên sự bất ngờ thú vị, khiến viên quan phải há mồm sửng sốt.

+ Lần thứ hai: Cậu bé đã hoá giải bằng cách “tương kế tựu kế” đưa nhà vua và cận thần vào “bẫy” của mình để cho ra sự vô lí: Giống đực thì không thể đẻ con.

+ Lần thứ ba: Cậu đã hoá giải lời thách đố của nhà vua bằng cách đưa ra điều kiện phải rèn chiếc kim thành dao xẻ thịt thì mới có thể làm thịt một con chim sẻ thành ba cỗ thức ăn; => dồn nhà vua vào thế bí. A không thực hiện được thì B cũng không thực hiện được.

+ Lần thứ tư: Trong lúc các đại thần vò đầu suy nghĩ không ra thì cậu bé vừa đùa nghịch, vừa đọc bài đồng dao để chỉ ra cách giải bằng cách dựa vào kinh nghiệm dân gian - "kiến mừng thấy mỡ".

• Đây là lần giải đố thú vị nhất, vì câu đố oái ăm, sự đấu trí không phải ở phương diện cá nhân mà là uy tín danh dự cho cả dân tộc, một lời giải có thể “cứu nguy cho cả hàng ngàn người”. Thế nhưng thái độ của người giải đố lại hết sức nhẹ nhàng tỉnh bơ, mà lời giải rất độc đáo bất ngờ.

Câu 4. Hãy nêu ý nghĩa của truyện cổ tích “Em bé thông minh”.

+ Ngợi ca trí thông minh của em bé bình dân -> ngợi ca tài trí của dân gian, của người lao động.

+ Câu chuyện đã đem lại cho cuộc sống tiếng cười hồn nhiên vui vẻ.

III. Hướng dẫn luyện tập

Kể diễn cảm câu chuyện:

+ Giọng kể phải hồn nhiên, trong sáng để thể hiện được tính chất của câu chuyện và tính cách của nhân vật chính chỉ là một cậu bé.

+ Trong truyện có khá nhiều nhân vật và lời đối thoại, chú ý thể hiện lời thoại cho phù hợp với đặc điểm của từng nhân vật:

• Viên quan: Giọng hóm hỉnh.

• Cậu bé: Lém lỉnh, hồn nhiên, tinh nghịch.

• Ông bố: Sợ hãi lo lắng.

• Nhà vua: Oai nghiêm.

IV. Tư liệu tham khảo

Truyện Em bé thông minh là kiểu truyện về trí khôn trong truyện cổ tích sinh hoạt. Nó ít có hoặc không có yếu tố kì ảo, các tình tiết và cách xử lí rất gần gũi với đời thường nhằm khẳng định trí tuệ, và mơ ước về người tài của nhân dân.

(Theo ôn tập ngữ văn 6 - Nguyễn Văn Long chủ biên)

Truyện đề cao trí thông minh và trí khôn dân gian, từ đó tạo nên tiếng cười vui vẻ hồn nhiên trong đời sống hàng ngày. Tôn vinh trí khôn là việc nên làm, nhưng việc cần tiếp tục làm là phải biết dùng trí khôn để phục vụ cuộc sống, đem lại niềm vui hạnh phúc cho mọi người.

(Theo Vũ Dương Quỹ, Lê Bảo - SĐ D)

Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 7

Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 7: Luyện nói, kể chuyện

Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 7: Chữa lỗi dùng từ

Đánh giá bài viết
1 306
Học tốt Ngữ Văn 6 Xem thêm