Phân tích nhân vật ông Sáu trong truyện Chiếc lược ngà lớp 7
Phân tích đặc điểm nhân vật ông Sáu trong Chiếc lược ngà lớp 7
Lập dàn ý Phân tích đặc điểm nhân vật ông Sáu
1. Mở bài: Giới thiệu nhân vật văn học mà em muốn phân tích đặc điểm: Ông Sáu trong truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng
2. Thân bài: Phân tích đặc điểm hình tượng ông Sáu trong Chiếc lược ngà:
- Phân tích diễn biến tâm lý, hành động của ông Sáu:
- Khi đi bộ đội thì con gái ông mới được 1 tuổi, niềm yêu thương con và nhớ con da diết
- Khi về đến nhà bé Thu không nhận ra mình vì vết thẹo không giống người trong hình. Con bé chạy đi, xa lánh, không nhận ông Sáu là cha, thậm chí còn hỗn, nói trổng khiến ông cảm thấy buồn tủi.
- Trong khi ăn cơm ông đã nóng vội, không kiềm chế được mà đánh bé Thu, ông cảm thấy rất hối hận nhưng cũng chỉ vì ông thương con quá mà thôi.
- Khát khao lớn nhất của ông hiện giờ là được nghe con gái gọi một tiếng Ba, chính tình cha con sâu nặng đã khiến ông kiên trì đến tận bây giờ
- Trước khi ông Sáu lên đường, bé Thu đã khiến anh và mọi người vô cùng bất ngờ khi cất tiếng gọi anh Sáu là ba. Ông cảm thấy hạnh phúc vô cùng.
- Ở chiến trường ông rất nhớ con, muốn được ôm con, hôn con. Ông dồn hết tình cảm để làm một cây lược bằng ngà voi tặng con.
→ Ông Sáu là một người cha trên cả tuyệt vời, vĩ đại, yêu thương con cái hết mực.
- Phân tích đặc điểm nhân vật ông Sáu:
- Hình ảnh giản dị, bình thường nhưng tình yêu thương của ông dành cho con là vô bờ bến
- Hình ảnh người chiến sĩ, người cha đã làm nổi bật lên tình cảm cha con của con người
- Ông Sáu luôn dành tình cảm yêu thương sâu sắc nhất dành cho con và gia đình mình
- Ông Sáu là một người chiến sĩ uy nghiêm trên chiến trường nhưng ông rất tình cảm đối với con.
3. Kết bài: Nêu tình cảm, cảm xúc và nhận xét của em về nhân vật ông Sáu vừa phân tích.
Phân tích đặc điểm nhân vật ông Sáu - Mẫu 1
Nguyễn Quang Sáng là nhà văn Nam Bộ, các tác phẩm của ông chủ yếu viết cho con người và cuộc sống ở Nam Bộ. Trong đó "Chiếc lược ngà” là một trong những truyện ngắn tiêu biểu được viết năm 1966 tại chiến trường Nam Bộ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt. Điều đáng lưu ý là truyện ngắn này viết trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh nhưng lại tập trung nói về tình người, cụ thể là tình cha con, tình cảm ấy được diễn ra một cách sâu sắc cảm động từ 2 nhân vật bé Thu và ông Sáu, nhưng có lẽ xúc động và gây ám ảnh hơi cả với người đọc là tình cảm người cha - ông Sáu với đứa con gái của mình.
Tình cảm yêu thương của ông Sáu được thể hiện tập trung và sâu sắc ở phần sau của truyện, khi ông Sáu trở lại chiến tranh. Sau khi chia tay với gia đình, ông Sáu vô cùng nhớ con. Những lúc ấy ông lại thấy dằn vặt day dứt vì đã đánh con trong lúc nóng giận, rồi lời dặn của con: ”Ba về, ba mua cho con một cây lược nghe Ba” đã thôi thúc ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà để tặng cho con. Khi kiếm được khúc ngà voi ông đã vô cùng vui mừng sung sướng "mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà”. Vậy đấy, khi người ta "hóa thành” trẻ con lại chính là lúc người ta đang hiện lên cá tư cách người cha cao quý của mình, rồi ông Sáu dồn hết tâm sức và tình yêu thương và chiếc lược " những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược thận trọng, tỉ mỉ và cố gắng như một người thợ bạc”.
Trên sống lưng lược có khắc một chữ nhớ mà ông gò lưng tẩn mẩn khắc từng nét “yêu nhớ tặng Thu con của ba” chiếc lược ngà trở thành kỉ vật thiêng liêng của ông Sáu là kết tinh của tình phụ tử mộc mạc đằm thắm sâu lặng. Nó làm dịu đi lỗi ân hận và chứa đựng bao tình cảm yêu mến nhớ thương mong đợi của người cha đến với đứa con xa cách ”cây lược ấy chưa chải được mái tóc của con nhưng như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh”. Những đêm nhớ con anh anh mang chiếc lược ngà ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Lòng yêu thương con được kết tinh trong cây lược ngà ấy đã khiến cho người cha – người đã trở thành một nghệ nhân – nghệ nhân chỉ sáng tác ra một tác phẩm duy nhất của cuộc đời.
Nhưng rồi trong tình cảnh đau thương lại đến với ông Sáu, ông bị trúng đạn của giặc. Trong giờ phút cuối cùng không kịp chăng chối lại điều gì, ông đưa tay lên túi, móc cây lược cho ông Ba- người bạn chiến đấu và nhìn bạn một hồi lâu, cái nhìn như một lời chăng chối ủy thác thiêng liêng là ước nguyện giữ gìn tình phụ tử muôn đời. Ông Sáu đã hi sinh nhưng tình cha con ở ông thì không thể nào chết được, tình cha con mãi thiêng liêng bất diệt.
Có thể nói, chiến tranh đã lùi xa hơn ba mươi năm nhưng hình ảnh nhân vật ông Sáu và câu chuyện về ”Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng vẫn để lại bao ám ảnh day dứt trong lòng bạn đọc. Câu chuyện ấy không chỉ nói lên tình cha con thắm thiết sâu nặng của cha con ông Sáu, đặc biệt là tình cảm ông Sáu dành cho con, mà còn gợi cho người đọc nỗi đau thương mất mát của chiến tranh gây ra bao nhiêu gia đình, con người. Từ đó, ta càng có ý thức trân trọng giữ gìn tình phụ tử cao đẹp đồng thời trân trọng cuộc sống hòa bình đang được hưởng hôm nay.
Phân tích đặc điểm nhân vật ông Sáu - Mẫu 2
“Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp bằng câu chuyện do chính cuộc sống viết ra”. "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng chính là một câu chuyện cổ tích giữa đời thường như thế. Vang vọng suốt mạch cảm xúc của tác phẩm, chỉ hai tiếng “ba, con” bình dị mà đầy thiêng liêng đã làm nổi bật lên hình ảnh của ông Sáu với tình yêu thương con sâu sắc.
Ông Sáu là một người lính với tình yêu quê hương đất nước sâu nặng. Ông sẵn sàng xa gia đình đi chiến đấu để bảo vệ đất nước, quê hương. Trong hoàn cảnh chiến tranh, ông Sáu vẫn còn có tình đồng chí, đồng đội sâu nặng làm chỗ dựa. Không chỉ là một người lính với tình yêu Tổ quốc mãnh liệt, ông Sáu còn là một người cha với tình yêu thương con tha thiết. Ông Sáu đi kháng chiến từ năm 1946, giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong những năm ở chiến trường, chị Sáu có đến thăm ông mấy lần. Thương nhớ con, ông bảo vợ đưa con đến. Nhưng do hoàn cảnh chiến tranh, chị Sáu không thể đưa con đến thăm chồng. Bao nhiêu yêu thương, mong nhớ đứa con, ông chỉ có thể gửi gắm qua bức ảnh nhỏ.
Đến khi được nghỉ phép về thăm nhà, cái tình người cha cứ nôn nao sống dậy trong ông. Vì vậy mà, mới chỉ nghĩ đến việc được gặp con thôi, ông đã thấy “nôn nao mãi”. Những chi tiết như “không thể chờ xuồng cập lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra”, “bước vội vàng với những bước chân dài" đã khắc họa rõ nét nỗi lòng khao khát, mong mỏi của người cha. Hình ảnh “vết thẹo dài trên má phải đỏ ửng lên, giần giật…” là biểu hiện của sự xúc động tột độ. Tiếng xưng “ba” sau bao ngày nhớ mong, mòn mỏi, vừa muốn vỡ oà, vừa lại như bị dòng cảm xúc quá lớn kìm xuống, khiến nó nghẹn lại trong “giọng run run”: “Ba đây con”. Thế nhưng Thu lại từ chối tình cảm của ông “mặt nó tái đi, rồi vụt chạy”. Ông “đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”. Nghệ thuật so sánh đã diễn tả nỗi đau đớn đến tột cùng của ông Sáu.
Trước biểu hiện sợ hãi, khước từ của con gái, ông Sáu vừa bất ngờ, thất vọng, đau đớn. Bé Thu kiên quyết không chịu nhận ba vì vết sẹo bên má phải của ông trông rất dễ sợ, không giống người ba trong bức hình chụp chung với má. Phản ứng của bé Thu là phản ứng tự nhiên, chứng tỏ bé Thu có tính cách mạnh mẽ, chân thật. Em chỉ yêu người đúng là cha mình. Trong sự ương bướng ấy là niềm kiêu hãnh trẻ thơ về một người cha mong đợi. Vì hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh mà cha em phải mang vết sẹo trên mặt. Thu cũng còn quá nhỏ để hiểu những tình thế éo le của cuộc sống và hơn hết, cuộc gặp gỡ xảy ra quá bất ngờ nên người lớn trong gia đình chưa kịp chuẩn bị tâm lí cho em.
Trong ba ngày về thăm nhà, ông Sáu chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con. Anh mong được nghe tiếng gọi "ba" của con bé, nhưng con bé chẳng bao giờ chịu gọi. Khi mẹ bảo gọi ba vào ăn cơm thì nó chối từ: "Thì má cứ kêu đi". Đến lúc mẹ nổi giận, quơ đũa bếp dọa đánh, nó đành phải gọi nhưng lại nói trổng: "Vô ăn cơm", "Cơm chín rồi". Ông Sáu vẫn giả vờ không nghe thấy để con bé phải gọi ba, nhưng nó không để tâm đến thái độ của ông Sáu: "Con kêu rồi mà người ta không nghe". Ông quay lại nhìn con vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, ông đành cười vậy thôi. Trước sự cự tuyệt, bướng bỉnh của cô con gái, người cha ấy vẫn hết sức kiên trì. Đến bữa sau, khi đang nấu cơm, chị Sáu chạy đi mua thức ăn. Đây là lúc bé Thu cần ông Sáu giúp đỡ, nhưng con bé vẫn nói trống không: "Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái!", "Cơm sôi rồi, nhão hết bây giờ".
Tình huống được đẩy lên đến kịch tính khi bé Thu từ chối sự quan tâm của ông Sáu. Trong bữa ăn, ông Sáu gắp cho con một cái trứng cá to vàng để vào chén. Bé Thu liền lấy đũa, xoi vào chén, bất thần hất cái trứng ra làm cơm văng tung tóe cả mâm. Không kịp suy nghĩ, ông Sáu vung tay đánh con và hét lên "sao mày cứng đầu quá vậy hả? ". Ông Sáu đánh con vì tức giận, đau đớn và bất lực. Thời gian ông có thể ở bên con không còn nhiều, vậy mà con bé vẫn không chịu nhận ông. Về sau, chính điều đó đã giày vò tâm trí ông, trở thành mối khổ tâm suốt những năm tháng sau này khi phải xa con.
Vào thời khắc cuối cùng được ở nhà, được nhìn thấy con gái, trái tim của người cha đã được xoa dịu khi bé Thu nhận ra ba. Lúc chia tay, ông Sáu cố nén lòng, kìm giữ cảm xúc của mình. Ông “cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng cũng lại sợ nó giãy lên, lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó”. Chỉ cần nhìn thấy sự hiện diện của con thôi, ông cũng cảm thấy được an ủi phần nào. Và bao nhiêu tình yêu ông dồn cả vào ánh mắt nhìn con – “đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu “Ánh mắt ấy vừa muốn bộc lộ hết tình yêu tha thiết với con, vừa thể hiện nỗi khao khát bị kìm nén, nỗi buồn của sự chia xa và cả nỗi đau của sự bị khước từ. Khi tiếng gọi “ba” bất ngờ của bé Thu cất lên: “Ba… a… a… ba!”, ông Sáu “không ghìm được xúc động”, “một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt”.
Tình phụ tử là thứ tình cảm thiêng liêng, sâu sắc tồn tại giữa ba và con. Không một thế lực nào trên trái đất có thể chia cắt đi sợi dây gắn bó diệu kỳ đó, ngay cả chiến tranh - “kẻ hủy diệt mọi thứ”. Chiến tranh có thể phá hoại vật chất, ăn mòn tinh thần con người nhưng tuyệt nhiên không thể cắt đứt sợi dây liên kết giữa cả hai. “Chiếc lược ngà” với tình cha con của ông Sáu và bé Thu đã chứng minh cho độc giả sức sống mãnh liệt của thứ tình cảm thiêng liêng ấy.
Phân tích đặc điểm nhân vật ông Sáu - Mẫu 3
Có thể nói, ông Sáu là một người cha yêu thương con vô bờ bến. Ông anh dũng tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc. Ngày tạm biệt quê hương bước chân vào chiến trường đứa con gái bé bỏng của ông mới lên một tuổi.
Bảy năm ròng rã ngoài chiến trường đã dấy lên trong ông khao khát được gặp lại vợ con, được nghe con gọi một tiếng “ba”. “Xuồng vào bến, thấy một đứa bé độ tám tuổi, tóc cắt ngang vai, mặc quần đen, áo bông đỏ đang chơi nhà chòi dưới bóng cây xoài trước sân nhà, đoán biết là con, không thể chờ xuồng cập lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra, khiến tôi bị chới với. Anh bước vội vàng với những bước dài, rồi dừng lại kêu to: Thu! Con!”. Thế nhưng trước tình cảm đó bé Thu – con gái bé bỏng của ông lại tỏ ra xa lánh, ngờ vực ông, nó nhất quyết không chịu gọi một tiếng “ba”. Dù vậy, trong suốt ba ngày về phép ông Sáu luôn tìm cách vỗ về, gần gũi con. Ông quan tâm, yêu chiều nó hết mực. Trong bữa cơm, ông gắp cho nó một miếng trứng cá vàng ươm nhưng nó lại bất ngờ hất văng miếng trứng khỏi bát. Vì quá tức giận ông đã ra tay đánh nó nhưng chính hành động đó lại khiến ông day dứt cho đến mãi về sau.
Hết ba ngày phép, trước khi quay trở về chiến trường ông muốn ôm con, hôn con nhưng lại sợ nó giẫy lên bỏ chạy nên chỉ biết đứng đó nhìn nó với đôi mắt trìu mến xen lẫn buồn rầu. Khi đứa con bất ngờ chạy đến ôm ông thật chặt và gọi một tiếng “ba” ông đã không kìm được xúc động. Đó là tiếng “ba” mà ông đã chờ đợi ngần ấy thời gian. Ông Sáu một tay ôm chặt con, một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con. Còn gì cảm động hơn giờ phút cha con nhận lại nhau lại chính là giờ phút phải chia tay. Tiếng “ba” ấy của bé Thu cất lên không chỉ gây xúc động cho người cha mà nó còn như một tiếng thét xé tan im lặng, xé lòng tất thảy mọi người.
Truyện “Chiếc lược ngà” và hình ảnh ông Sáu đã khơi gợi trong lòng ta bao ý nghĩa về sự hi sinh và hạnh phúc ở đời do các thế hệ cha anh đã đổ xương máu làm nên. Và bài học “uống nước nhớ nguồn” càng thêm thấm thía.
Phân tích đặc điểm nhân vật ông Sáu - Mẫu 4
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng là một nhà văn có tấm lòng nhân hậu, lương thiện ông thường gắn bó đời mình với những người dân Nam Bộ, yêu nước, anh hùng, kiên cường, bất khuất.
Nhân vật ông Sáu sau tám năm chiến đấu xa nhà, khi được nghỉ phép về thăm lại gia đình, được gặp đứa con gái bé bỏng lòng ông vô cùng nao nao xúc động. Bởi khi ông ra đi nó vẫn còn hơn một tuổi, vì thế lần trở về lần này không tránh được những phút giây ngượng ngùng hồi hộp. Tình cảm cha thiêng liêng nên ngay từ khi nhìn thấy con ông Sáu đã gọi lớn rồi ôm chầm lấy con, nhưng đáp lại sự vồn vã của ông Sáu, bé Thu vô cùng lạnh lùng, nó tìm cách tránh cái ôm của ông Sáu và vào nhà gọi mẹ. Niềm vui của ông Sáu không kéo dài được bao lâu bởi những ngày sau đó bé Thu vẫn xa lánh ông không chịu nhận ông bằng ba, không gần gũi, bởi những vết sẹo trên gương mặt ông hoàn toàn khác với người ba mà nó thường nhìn thấy trong bức ảnh cưới của ba và mẹ.
Ba ngày ở nhà ông Sau chẳng đi đâu xa chỉ muốn quanh quẩn gần gũi với đứa con nhỏ bé của mình, mong mỏi đón nhận tình cảm của con bé Thu. Những biểu hiện của nó thì lại vô cùng lạnh lùng, làm ông đau đớn xé lòng. Nó vừa ương ngạnh, vừa ngang bướng gai gốc, một chút lễ phép với ông cũng không có luôn. Khi má Thu bảo kêu ba vào ăn cơm thì nó chỉ chạy ra ngoài và nói cộc lốc, không có chủ ngữ kính ngữ cần có của một người nhỏ tuổi “Vô ăn cơm” “Cơm chín rồi”. Những lúc như vậy không Sáu bằng lòng bao dung của một người cha chỉ cười cười và khẽ gật đầu, nhưng ông rất buồn và khổ tâm khi con gái không nhìn nhận mình là ba. Ông Sáu tuy buồn vì sự ương ngạnh của bé Thu nhưng chưa lúc nào ông thôi chăm sóc cho con, thôi vun vén tình cảm cha con với con bé, vì thương con nên trong bữa ăn ông mới gắp cho con bé miếng trứng cá to nhất, thơm ngon nhưng đáp lại hành động yêu thương của ba, con bé Thu hất tay làm cho miếng trứng cá rơi xuống đất. Vì giận dữ trước thái độ ngang ngạnh của con ông Sáu có đánh con vài cái, nhưng trong trái tim ông cũng đau rất nhiều. Con bé không khóc mà bơi thuyền sang nhà bà ngoại chơi và tối đó nó không về nhà mà ngủ với ngoại.
Đêm đó, nghe bà ngoại nói về những chiến công của ba nó, nguyên nhân của những vết sẹo trên mặt ba nó bé Thu đã khóc. Rồi ba ngày nghỉ phép của ông Sáu cũng hết, giây phút ông Sáu phải lên đường cũng tới. Trong giây phút thiêng liêng ấy tiếng gọi Ba vỡ òa. Bé Thu nức nở ôm lấy ba mình nói ” Không cho Ba đi, ba phải ở nhà với con”. Con bé đã trút bỏ sự gai góc ngang ngạnh của mình để làm một đứa trẻ đúng nghĩa một đứa trẻ cần tình yêu thương của một người cha.
Qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà” tác giả Nguyễn Quang Sáng không chỉ muốn ca ngợi tình cảm gia đình thiêng liêng, cao cả, mà còn tố cáo tội ác của chiến tranh, đã mang lại nhiều đau khổ cho nhiều gia đình của nước ta. Nhà văn đã khắc họa thành công nhân vật ông Sáu người chiến sĩ anh dũng kiên cường trong kháng chiến, một người cha mẫu mực thương con.
Phân tích đặc điểm nhân vật ông Sáu - Mẫu 5
“Chiếc lược ngà“ là truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết về tình cha – con và nỗi đau trong chiến tranh do quân giặc gieo rắc thời chống Mĩ. Ông Sáu là một trong những nhân vật thể hiện sâu sắc chủ đề ấy.
Ông Sáu, một nông dân Nam Bộ giàu lòng yêu nước đã tham gia hai cuộc kháng chiến (đánh Pháp và đánh Mĩ), và đã anh dũng hi sinh. Ra đi đánh giặc từ năm 1946 mãi đến năm 1954, hòa bình lập lại, ông mới được về thăm quê một vài ngày. Ngày ra đi bộ đội, đứa con gái bé bỏng thân yêu của ông mới lên một tuổi, ngày về thì con đã 8, 9 tuổi. Cái khao khát của một người lính sau những năm dài vào sinh ra từ được trở lại quê hương, được gặp lại vợ con, được nghe con cất tiếng gọi “ba” một tiếng cũng không trọn vẹn! Đó là bi kịch thời chiến tranh. Lúc chia tay vợ con lần thứ hai để bước vào một cuộc chiến đấu mới, ông mới được một khoảnh khắc hạnh phúc khi đứa con gái ngây thơ “nhận ra” ba mình và kêu thét lên: “Ba… ba!”. Ông ôm con “rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con”. Ông Sáu đã ra đi với nỗi nhớ thương vợ con không thể nào kể xiết. Bom đạn giặc đã làm thay đổi hình hài ông. Vết thẹo dài trên má phải – vết thương chiến tranh – đã làm cho đứa con gái thương yêu, bé bỏng không nhận ra bóng dáng người cha nữa! Ông đã ra đi, mang theo hình ảnh vợ con, với lời hứa mang về cho, con gái chiếc lược cùng với nỗi ân hận day dứt “sao mình lại đánh con” cứ giày vò ông mãi. Nỗi đau, nổi nhớ thương và mất mát… do quân giặc đem đến cho ông Sáu, cho bao người lính, cho bao bà mẹ, em thơ trên khắp mọi miền đất nước ta có bao giờ nguôi! Sự hi sinh của thế hệ đi trước để làm nên độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình là vô giá.
Chiếc lược ngà như một vật kí thác thiêng liêng của người lính về tình phụ – tử sâu nặng mà bom đạn quân thù không thể nào tàn phá được. Chính vì thế, khi bị trúng đạn máy bay Mĩ bắn vào ngực, lúc hấp hối, ông “đưa tay vào túi, móc cái lược đưa cho bạn, nhìn bạn hồi lâu rồi tắt thở… ông Sáu đã hi sinh trong những ngày đen tối vì gian khổ. Ngôi mộ ông là “ngôi mộ bằng giữa rừng sâu”. Nhưng chỉ có “tình cha con là không thể chết được!”.
Hình ảnh ông Sáu, hình ảnh người cha trong truyện “Chiếc lược ngà“ sâu nặng về tình cha – con. Chiếc lược ngà với dòng chữ mãi mãi là kỉ vật, là nhân chứng về nỗi đau, về bi kịch đầy máu và nước mắt đã để lại nhiều ám ảnh bi thương trong lòng ta. Ông Sáu là người lính của một thế hệ anh hùng đi trước mở đường đã nếm trải nhiều thử thách, gian khổ và hi sinh.
Truyện “Chiếc lược ngà” và hình ảnh ông Sáu đã khơi gợi trong lòng ta bao ý nghĩa về sự hi sinh và hạnh phúc ở đời do các thế hệ cha anh đã đổ xương máu làm nên. Và bài học “uống nước nhớ nguồn” càng thêm thấm thía.