Thuyết minh giới thiệu về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội lớp 9
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội lớp 9
- Lập dàn ý Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội
- Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội: Hồ Gươm
- Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội: Đền Ngọc Sơn
- Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội: Chùa Một Cột
- Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội: Hồ Hoàn Kiếm
- Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội: Văn Miếu - Quốc Tử Giám
- Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội: Hồ Tây
- Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử lớp 9
Lập dàn ý Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội
1. Mở bài: Giới thiệu về danh lam thắng cảnh ở Hà Nội em muốn thuyết minh, giới thiệu: chùa Một Cột.
2. Thân bài
a/ Vị trí địa lý:
- Nằm trong khu di tích chùa Diên Hựu, Thôn Thanh Bảo, Quảng Đức vào thời Lý.
- Đến nay được gọi là Chùa Một Cột thuộc Ba Đình gần Lăng Bác, Hà Nội.
b/ Quá trình xây dựng:
- Chùa Một Cột được khởi công và xây dựng vào 10/1049 Âm lịch.
- Ngôi chùa được xây dựng theo một giấc mơ của vua Lý Thái Tông (Vua đã mơ thấy phật Quan Âm ngồi trên đài sen và dắt mình lên đài)
c/ Đặc điểm kiến trúc của Chùa Một Cột
- Ngôi chùa được thiết kế bằng gỗ ở phần dưới là cột đá tượng trưng cho thân sen, còn phía trên là đài sen.
- Chùa gồm có đài Liên Hoa hình vuông, chiều dài mỗi cạnh chùa là 3m, mái cong cong, dựng trên cột đá cao 4m, đường kính 1,2m có cột đá là 2 khúc chồng lên nhau thành một khối.
- Ngôi chùa được xây dựng vươn lên khỏi mặt nước là một kiến trúc độc đáo. Phía dưới là hồ hình vương bao quanh bởi gạch tráng men màu xanh.
d/ Ý nghĩa văn hóa, lịch sử của chùa Một Cột
- Chùa Một Cột là một trong những danh lam thắng cảnh được Bộ Văn hóa nước ta xếp hạng di tích lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc vào năm 4/1962.
- Chùa Một Cột là biểu tượng của người Hà Nội ngàn năm văn hiến và được in đằng sau đồng tiền xu 5000 của Việt Nam.
3. Kết bài: Khái quát lại giá trị, ý nghĩa và vai trò của Chùa Một Cột.
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội: Hồ Gươm
Nếu ai đã một lần về với mảnh đất ngàn năm văn hiến là kinh đô của đế vương muôn đời - thủ đô Hà Nội, thì có lẽ cũng đôi lần được dạo bước bên hồ Gươm. Hồ Gươm dường như là một cụm di tích, cảnh quan quen thuộc và đã đi vào nếp sống của người dân thủ đô, cũng như tiềm thức của nhân dân Việt Nam ta từ lâu đời. Không chỉ mang giá trị cảnh quan mà còn mang giá trị lịch sử văn hóa vô cùng sâu sắc.
Hồ Gươm hiện nay hồ thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm, diện tích bề mặt khoảng 12 ha, là hồ nước ngọt tự nhiên và duy nhất trên địa bàn quận. Với độ sâu trung bình từ 1- 1,4 m, chiều dài tối đa 700m, chiều rộng tối đa là 250m, chu vi nằm vào khoảng 1750 m. Hồ Hoàn Kiếm trước kia là một phân lưu lớn của sông Hồng, vốn dĩ chảy đổ về nhánh chính của sông. Tuy nhiên qua thời gian kiến tạo hàng vài thế kỷ, mực nước sông dần thấp đi, địa hình lòng sông được nâng lên, tạo nên những khu đất bao quanh nhánh sông này, cuối cùng phần trũng nhất trở thành hồ Gươm, dần dà dân cư tập trung sinh sống và phát triển ven hồ tạo nên quang cảnh như ngày hôm nay.
Đi cùng với hồ Gươm là một loạt các di tích lịch sử có giá trị lâu đời, gắn liền với tên tuổi của hồ và của thủ đô Hà Nội. Đầu tiên ấn tượng và dễ thấy nhất đó chính là tháp Rùa được dựng trên một mỏm nhất nhô lên giữa lòng hồ trong xanh, mang đến cảm giác độc lập, lặng lẽ. Bên cạnh đó những nét rêu phong cổ kính phủ đầy tháp còn khiến người ta không khỏi hoài niệm nhớ thương những ký ức một thời mà ngọn tháp sừng sững đã im lìm chứng kiến cả trăm năm. Tháp Rùa được xây một các đơn giản theo lối kiến trúc Pháp, được khởi công xây dựng vào năm 1884 và hoàn thành năm 1886, bao gồm bốn tầng tháp, hai tầng dưới cùng lớn và bố trí cửa vòm 4 mặt, hai tầng tháp trên nhỏ hơn, tầng thứ 3 có đề mấy chữ "Quy Sơn tháp", tầng thứ bốn thì có hình thức giống một vọng lâu. Vốn dĩ đỉnh tháp còn có một tượng bà đầm xòe, nhưng vì một lý do nào đó mà mất đi hoặc bị phá hủy do chiến tranh.
Nổi bật thứ hai chính là cụm di tích đền Ngọc Sơn và cầu Thê Húc, nằm về hướng Bắc của hồ Hoàn Kiếm. Đền Ngọc Sơn vốn xưa kia có tên là Tượng Nhĩ (tai voi), đến thời Lý thì được vua Lý Thái Tổ đặt lại thành đền Ngọc Tượng, đến đời Trần đổi lại thành Ngọc Sơn và được duy trì cho đến hôm nay. Ngôi đền trước kia dùng để thờ vị thần Văn Xương, chuyên cai quản việc học hành, khoa cử của nhân gian, sau còn thờ thêm Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Tổng thể công trình kiến trúc này có sự phối hợp hài hòa giữa Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo. Gắn liền với đền Ngọc Sơn chính là cầu Thê Húc nổi tiếng với dáng cong cong như "con tôm" và màu sơn đỏ chói như son dẫn vào đền. Cảnh bóng cầu in trên mặt nước trong xanh đã tạo nên một bức tranh tuyệt diệu, hài hòa, làm vui lòng du khách ghé thăm. Tên gọi cầu Thê Húc có ý nghĩa tượng trưng rất hay ấy là "nơi đậu ánh sáng mặt trời vào buổi sáng sớm".
Gần với đền Ngọc Sơn tại hướng Đông Bắc, có lẽ để bổ sung cho ngôi đền thờ vị thần Văn Xương, người ta đã dựng lên tháp Bút và đài Nghiên được xây dựng vào năm 1865. Đây là một công trình kiến trúc độc đáo, mang ý nghĩa biểu tượng to lớn, khuyến khích và đề cao việc học hành bút nghiên. Tháp Bút cao 28m, bao gồm năm tầng, đỉnh tháp có hình ngọn bút hướng lên trời cao, thân tháp đề mấy chữ Hán lớn "Tả Thanh Thiên" (viết lên trời xanh) màu đỏ, ngoài ra còn khắc một bài Bút Tháp chí của Nguyễn Văn Siêu. Toàn bộ tháp dựng trên một gò đá hộc, gọi là Độc Tôn. Gắn liền với tháp Bút là đài Nghiên, hình như một cái nghiên mực lớn, ứng với tháp Bút, được tạc từ một tảng đá xanh lớn có hình quả đào, sau đó đặt ngay ngắn lên ba con thiềm thừ (cóc) cũng bằng đá. Trên thân nghiên mặt trước có đề một bài Minh, gồm 64 chữ hán của Nguyễn Văn Siêu rất ý tứ và hàm súc, phía sau lại được khắc thêm hai câu đối lấy từ điển tích của Tô Đông Pha và Trang Tử, mang đậm màu sắc Đạo giáo.
Ngoài ra tại khu vực hồ Hoàn Kiếm còn có Tháp Hòa Phong, hay đền Bà Kiệu (thờ ba vị nữ thần là Liễu Hạnh công chúa, Đệ nhị Ngọc nữ và Đệ tam Ngọc nữ), Thủy Tạ, đền thờ vua Lê, tượng đài vua Lý Thái Tổ và vườn hoa là một số những điểm tích khá hấp dẫn mà nếu có cơ hội ghé thăm Hồ Gươm du khách cũng nên đến một lần.
Hồ Gươm là một địa điểm tham quan, một thắng cảnh hấp dẫn đối với nhiều du khách, không chỉ mang trong mình những vẻ đẹp thẩm mỹ bởi cảnh quan nhiều màu sắc, mà nó còn chứa đựng những giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc. Trải qua nhiều thế kỷ hồ Gươm đã ghi dấu trong lòng mình biết bao nhiêu sự kiện, bao nhiêu biến cố của đất nước, của dân tộc, chứng kiến lẽ hưng phế của nhiều triều đại, trở thành một nhân chứng lịch sử có tuổi thọ lâu đời của Việt Nam ta, cần được bảo tồn và giữ gìn cẩn thận, chặt chẽ.
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội: Đền Ngọc Sơn
Khi nhắc đến du lịch Hà Nội, du khách sẽ dễ dàng liên tưởng đến những nét cổ xưa, những truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời của mảnh đất ngàn năm văn hiến này. Đền Ngọc Sơn như một biểu tượng minh chứng lịch sử gắn liền với bao thăng trầm của thủ đô Hà Nội. Cho đến ngày nay, di tích Đền Ngọc Sơn trở thành địa điểm du lịch không thể bỏ qua khi ghé thăm Hà Nội.
Ngọc Sơn là một ngôi đền nổi tiếng nằm trên đảo Ngọc của Hồ Hoàn Kiếm – Hà Nội. Di tích Đền Ngọc Sơn được xây dựng trên một gò đất cao phía Đông Bắc của hồ và có từ thời nhà Lý. Ngay cổng Đền Ngọc Sơn là ngọn Tháp Bút khắc ba chứ “Tả Thanh Thiên” nghĩa là “viết lên trời xanh”. Lối dẫn du khách qua đảo Ngọc thăm Đền Ngọc Sơn là cây Cầu Thê Húc cũng là điểm nhấn thu hút du khách mỗi khi đến với địa điểm này.
Đền Ngọc Sơn được xây dựng từ thế kỉ 19, ban đầu được gọi là chùa Ngọc Sơn, sau đổi thành Đền Ngọc Sơn vì trong đền chỉ thờ thần Văn Xương Đế Quân là ngôi sao chủ việc văn chương khoa cử và thờ vua Trần Hưng Đạo. Trải qua rất nhiều lần bị phá bỏ và qua rất nhiều người thì đến cuối cùng vào năm 1865 nhà nho Nguyễn Văn Siêu đã đứng ra tu sửa lại ngôi đền, ông còn cho xây them đình Trấn Ba, bắc một câu cầu từ bờ đông đi ra đảo Ngọc gọi là Cầu Thê Húc, bên trái ông cho xây dựng Đài Nghiêng, và phía đông ông xây Tháp Bút, tượng trưng cho nền văn vật.
Đền Ngọc Sơn được xây dựng theo kiến trúc hình chữ Tam. Trong đền có nhiều câu đối, hoành phi và vật bài trí linh thiêng. Mái đình của đền có hình vuông, có tam mái, mái hai tầng có tám cột chống đỡ. Sự kết hợp giữa bốn cột trong bằng gỗ và bốn cột ngoài bằng đá tạo nên sự tôn nghiêm và nét riêng cho Đền Ngọc Sơn. Người dân thủ đô thường xuyên đến đây dâng hương cầu nguyện và những du khách khi có dịp ghé đến đều vào thắp hương tưởng nhớ các thánh nhân và cầu an. Trước khi vào tham quan Đền Ngọc Sơn du khách sẽ được chiêm ngưỡng Đài Nghiêng và Tháp Bút bên bờ đông. Tháp Bút được dựng trên núi Ngọc Bội, đỉnh tháp có hình bút lông dựng ngược. Trên Đài Nghiêng có một cái nghiêng mực hình nửa quả đào bằng đá được đội trên mình ba con ếch, trên đài có khắc một bài thuyết minh nói về công dụng của nghiêng mực.
Để qua đảo Ngọc bạn phải đi qua cây Cầu Thê Húc, cây cầu gắn liền với di tích Đền Ngọc Sơn đã đi vào những áng thơ ca Việt Nam rất nhiều vì hình ảnh vô cùng nên thơ. Cây cầu nổi bật với màu son đỏ, nhìn từ xa như một dải lụa đào vắt ngang qua mặt Hồ Gươm xanh biếc như ngọc. Tên của cầu có nghĩa là giữ lại ánh sáng đẹp của mặt trời. Đứng trên cầu nhìn cảnh vật vô cùng hữu tình xung quanh bạn sẽ chìm đắm trong không gian yên bình nhẹ nhàng của Hà Nội và đừng mãi ngắm cảnh mà quên chụp những bức hình thật đẹp nhé.
Ghé thăm Đền Ngọc Sơn, du khách sẽ cảm nhận được một không gian yên bình, tĩnh lặng giữa lòng thủ đô đông đúc, tấp nập. Không chỉ là địa điểm tâm linh của người dân và khách du lịch đến dâng hương cầu an mà nơi đây còn trở thành biểu tượng và là nơi để thư giãn, cảm nhận cuộc sống tại Hà Nội.
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội: Chùa Một Cột
Chùa Một Cột nằm trong khu di tích chùa Diên Hựu, Thôn Thanh Bảo, Quảng Đức vào thời lý. Đến nay được gọi là Chùa Một Cột thuộc Ba Đình gần Lăng Bác, Hà Nội.
Ngôi chùa được thiết kế bằng gỗ ở phần dưới là cột đã tượng trưng cho thân sen, còn phía trên là đài sen. Bên trong có tượng phật bà Quan Âm để thờ. Cho đến năm 1105, Vua Lý Nhân Tông cho mở rộng kiến trúc của chùa và xây dựng thêm hồ Linh Chiểu. Về sau, chùa chỉ còn lại ngôi chùa nhỏ như ngày nay.
Kiến trúc của chùa gồm có đài Liên Hoa hình vuông, chiều dài mỗi cạnh chùa là 3m, mái cong cong, dựng trên cột đá cao 4 m, đường kính 1,2m có cột đá là 2 khúc chồng lên nhau thành một khối. Tiếp đến là hệ thống đòn bẩy để giữ thăng bằng cho ngôi chùa phía trên. Ngôi chùa được xây dựng vươn lên khỏi mặt nước là một kiến trúc độc đáo. Phía dưới là hồ hình vương bao quanh bởi gạch tráng men màu xanh.
Tính đến năm 1840- 1850, ngôi chùa một cột được trùng tu và tôn tạo, lần tiếp theo là vào năm 1920. Vào năm 1955, Đài Liên Hoa được sửa chữa bởi kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng. Năm 1995, ngôi Tam bảo được trùng tu với tổng số tiền lên tới 500 triệu đồng. và tiếp theo là trùng tu nhà mẫu năm 1997 hết 200 triệu đồng.
Chùa một cột là một trong những danh lam thắng cảnh được bộ văn hóa nước ta xếp hạng di tích lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc vào năm 4/1962. Chùa Một Cột có một ý nghĩa lịch sử và văn hóa vô cùng to lớn. Đây cũng là biểu tượng của người Hà Nội ngàn năm văn hiến. Có một điều rất được được có thể bạn không để ý mà taxi nội bài Hà Nội sẽ nói đó là chùa một cột còn được in đằng sau đồng tiền xu 5000 của Việt Nam.
Nếu bạn có cơ hội du lịch một ngày Hà Nội thì chắc chắn các bạn không thể bỏ qua đó chính là Chùa Một Cột. Ngôi chùa tuy nhỏ bé nhưng nó là nét văn hóa của dân tộc và có nét kiến trúc riêng không đâu có được. Chính sử đặc biệt này mà hàng năm, khách du lịch đến đây rất đông và là nơi yêu thích của khách du lịch trong và ngoài nước.
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội: Hồ Hoàn Kiếm
"Mặt Hồ Gươm vẫn lung linh mây trời, càng tỏa mát hương hoa thơm Thủ đô...". Nhắc đến Hà Nội là nhắc đến hình ảnh Hồ Gươm trong xanh và bóng Tháp Rùa nghiêng nghiêng soi dáng. Hồ Gươm cùng quần thể kiến trúc của nó đã trở thành một biểu tượng đẹp đẽ và thiêng liêng về Hà Nội - trái tim hồng của cả nước.
Hồ Gươm đã tồn tại từ rất lâu. Cách đây khoảng 6 thế kỷ, theo những địa danh hiện nay, hồ gồm hai phần chạy dài từ phố Hàng Đào, qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt tới phố Hàng Chuối, thông với sông Hồng. Nước hồ quanh năm xanh biếc nên hồ Gươm cũng được gọi là hồ Lục Thuỷ. Sau đó, cũng vào thời Lê, hồ còn được dùng làm nơi tập luyện của thuỷ quân nên có lúc được gọi là hồ Thuỷ Quân.
Hồ Hoàn Kiếm là một thắng cảnh nổi tiếng của Hà Nội. Quanh hồ trồng nhiều loại hoa và cây cảnh. Đó là những hàng liễu rủ thướt tha, những nhành lộc vừng nghiêng nghiêng đổ hoa soi bóng dưới lòng hồ. Giữa hồ có tháp Rùa, cạnh hồ có đền Ngọc Sơn có "Đài Nghiên Tháp Bút chưa sờn"... Hình ảnh hồ Gươm lung linh giống như một tấm gương xinh đẹp giữa lòng thành phố đã đi vào lòng nhiều người dân Hà Nội. Người dân Hà Nội sống ở khu vực quanh hồ có thói quen ra đây tập thể dục vào sáng sớm, đặc biệt là vào mùa hè. Họ gọi các khu phố nằm quanh hồ là Bờ Hồ.
Không phải là hồ nước lớn nhất trong Thủ đô, song với nguồn gốc đặc biệt, hồ Hoàn Kiếm đã gắn liền với cuộc sống và tâm tư của nhiều người. Hồ nằm ở trung tâm một quận với những khu phố cổ chật hẹp, đã mở ra một khoảng không đủ rộng cho những sinh hoạt văn hóa bản địa. Hồ có nhiều cảnh đẹp. Và hơn thế, hồ gắn với huyền sử, là biểu tượng khát khao hòa bình (trả gươm cầm bút), đức văn tài võ trị của dân tộc (thanh kiếm thiêng nơi đáy hồ và tháp bút viết lên trời xanh). Do vậy, nhiều văn nghệ sĩ đã lấy hình ảnh Hồ Gươm làm nền tảng cho các tác phẩm của mình. Nhà thơ Trần Đăng Khoa từng viết:
"Hà Nội có Hồ Gươm
Nước xanh như pha mực
Bên hồ ngọn Tháp Bút
Viết thơ lên trời cao"
Và như thế, Hồ Gươm sẽ mãi sống trong tiềm thức mỗi người dân Thủ đô nói riêng và người dân cả nước nói chung như một biểu tượng thiêng liêng về lịch sử và truyền thống văn hóa dân tộc.
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội: Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Trong số các di tích lịch sử của Hà Nội, Văn Miếu - Quốc Tử Giám là một di tích gắn liền với sự thành lập của kinh đô Thăng Long dưới triều Lý, đã có lịch sử gần nghìn năm, với quy mô khang trang bề thế nhất, tiêu biểu nhất cho Hà Nội và cũng là nơi được coi là biểu tượng cho văn hóa, lịch sử Việt Nam.
Văn Miếu - Quốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng và phong phú. Là tổ hợp gồm hai di tích chính: Văn Miếu thờ Khổng Tử, các bậc hiền triết của Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam; và Quốc Tử Giám, trường quốc học cao cấp đầu tiên của Việt Nam, với hơn 700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám được bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn Miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc. Tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn, kiến trúc đơn giản hơn và theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc.
Phía trước Văn Miếu có một hồ lớn gọi là hồ Văn Chương, tên cũ xưa gọi là Thái Hồ. Giữa hồ có gò Kim Châu, trước đây có lầu để ngắm cảnh. Ngoài cổng chính có tứ trụ, hai bên tả hữu có bia "Hạ Mã", xung quanh khu vực xây tường cao bao quanh. Cổng Văn Miếu xây kiểu tam quan, trên có 3 chữ "Văn Miếu Môn" kiểu chữ Hán cổ xưa.
Trong Văn Miếu chia làm 5 khu vực rõ rệt, mỗi khu vực đều có tường ngăn cách và cổng đi lại liên hệ với nhau. Khu thứ nhất bắt đầu với cổng chính Văn Miếu Môn đi đến cổng Đại Trung Môn, hai bên có cửa nhỏ là Thành Đức Môn và Đạt Tài Môn. Khu thứ hai tính từ Đại Trung Môn vào đến khuê Văn Các (do Đức Tiền Quân Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành cho xây năm 1805). Khu thứ ba gồm hồ nước Thiên Quang Tỉnh (nghĩa là giếng soi ánh mặt trời), có hình vuông. Hai bên hồ là 2 khu nhà bia tiến sĩ. Mỗi tấm bia được làm bằng đá, khắc tên các vị thi đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ. Bia đặt trên lưng một con rùa. Khu thứ tư là khu trung tâm và là kiến trúc chủ yếu của Văn Miếu, gồm hai công trình lớn bố cục song song và nối tiếp nhau. Toà ngoài nhà là Bái đường, toà trong là Thượng cung. Khu thứ năm là khu Thái Học, trước kia đã có một thời kỳ đây là khu đền Khải Thánh, thờ bố mẹ Khổng Tử, nhưng đã bị phá hủy. Khu nhà Thái Học mới được xây dựng lại năm 2000.
Trong Văn Miếu có tượng Khổng Tử và Tứ phối (Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử). Ở điện thờ Khổng Tử có hai cặp hạc cưỡi trên lưng rùa. Đây là hình tượng rất đặc trưng tại các đền, chùa, lăng tẩm, miếu mạo ở Việt Nam. Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu..., hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm - dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao.
Hằng năm, cứ sau kỳ tốt nghiệp bậc đại học, thủ khoa của các trường được về Văn Miếu - Quốc Tử Giám để Chủ tịch UBND TP Hà Nội trao bằng khen và tham quan, ngoài ra rất nhiều hoạt động trong lĩnh vực văn hóa được tổ chức tại Văn Miếu. Đặc biệt, khách nước ngoài từ khắp các lục địa cũng về đây hằng ngày để tham quan và tìm hiểu trường đại học đầu tiên của Việt Nam, Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Hà Nội: Hồ Tây
Ở Hà Nội, ngoài hồ Hoàn Kiếm nổi tiếng gần xa, đi vào sử sách, còn có một vùng hồ khác cũng đẹp và thơ mộng không kém. Đó là Hồ Tây.
Hồ Tây là hồ nước tự nhiên nằm ở phía Tây Bắc nội thành Hà Nội với diện tích khoảng 500ha, có đường vòng quanh hồ dài gần 20km. Ngành địa lý lịch sử đã chứng minh, Hồ Tây là hồ ngoại sinh, có dạng lòng chảo, là một đoạn của sông Hồng xưa trong quá trình ngưng đọng lại sau khi sông đổi dòng chảy. Hồ Tây trước đây còn có các tên gọi khác như Đầm Xác Cáo, Hồ Kim Ngưu, Lãng Bạc, Dâm Đàm, Đoài Hồ. Mỗi tên gọi đều gắn với sự tích về nguồn cội của hồ Tây huyền thoại.
Sách Tây Hồ chí ghi rằng, Hồ Tây có từ thời Hùng Vương, bấy giờ nơi đây là một bến nằm giáp sông Hồng thuộc động Lâm Ấp, nên được gọi là bến Lâm Ấp thuộc thôn Long Đỗ. Ở vào thời Hai Bà Trưng, bến này thông với sông Hồng, bao bọc quanh hồ là rừng cây gồm nhiều loại thực vật chính như tre ngà, bàng, lim, lau sậy, gỗ tầm cùng một số loài thú quý hiếm sinh tồn.
Ở thủ đô Hà Nội, hồ Tây là khu vực có hệ thống di sản, di tích đậm đặc. Chỉ riêng khu vực quanh hồ Tây hiện còn có hơn 20 ngôi đình, đền, chùa được xếp hạng với nhiều di tích nổi tiếng. Cứ mỗi khi xuân về, những di tích ấy thu hút hàng vạn khách thập phương trong và ngoài nước đến vãn cảnh, tham quan lễ chùa. Với lợi thế vị trí độc đáo, hồ Tây gần như bao trọn không gian văn hóa lịch sử gắn liền với nhiều truyền thuyết, các công trình nghệ thuật, kiến trúc, gắn với lịch sử ngàn năm thủ đô Hà Nội. Đây cũng là lý do mà nhiều du khách tới đây tìm hiểu khám phá hồ Tây. Với nhiều du khách, điều thích thú nhất là được tham quan hồ Tây bằng xe điện chạy quanh hồ. Ông Nguyễn Quang Lộc, nhà ở Quận Hai Bà Trưng cho biết: “Trước đây tôi chỉ nghe nói hồ Tây rộng, chứ chưa đi hết. Nhưng nay đi xe điện quanh hồ tôi biết thêm nhiều điều, hiểu thêm các làng nghề, các di tích, đình, chùa xung quanh hồ Tây”.
Hồ Tây ngày nay còn là lá phổi xanh của thành phố. Hồ Tây không chỉ đẹp bởi mặt nước xanh mênh mông, mà còn là vẻ đẹp thơ mộng bởi sắc tím của hoa bằng lăng, vẻ rực rỡ của những cánh hoa phượng hồng mỗi độ hè về. Mặt nước hồ luôn phảng phất những làn gió mát, khiến tâm hồn con người thêm thư thái. Với không gian như thế, hồ Tây thực sự là nơi đến thư giãn của nhiều người Hà Nội.
Từ chốn rừng rậm, đầm lầy hoang hóa, qua công lao khai khẩn xây dựng của bao thế hệ, trong đó có sự đóng góp rất lớn của một số vương phi các triều đại, Hồ Tây đã trở thành một thắng cảnh văn hóa - du lịch nổi tiếng của Kinh đô Thăng Long - Hà Nội. Vì vậy chúng ta hãy chung ta cùng bảo tồn và phát triển thắng cảnh này.
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử lớp 9
>> HS tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu và đa dạng cùng chủ đề khác tại đây Viết bài văn Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử lớp 9