Viên chức sẽ được bố trí theo bậc nghề nghiệp ra sao từ 1/7?
Mục lục bài viết
Nghị định mới của Chính phủ quy định rõ bậc nghề nghiệp tương ứng với từng vị trí việc làm, làm căn cứ để bố trí, sử dụng và quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập.
Từ ngày 1/7, Nghị định 232/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về vị trí việc làm viên chức chính thức có hiệu lực, thay thế Nghị định 106/2020/NĐ-CP. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc quy định bậc nghề nghiệp đối với từng vị trí việc làm, làm căn cứ để các đơn vị sự nghiệp công lập bố trí và quản lý viên chức.
Theo nghị định, vị trí việc làm viên chức được chia thành 3 nhóm gồm: vị trí việc làm quản lý; vị trí việc làm chuyên môn nghiệp vụ; và vị trí việc làm hỗ trợ. Mỗi vị trí việc làm được xác định trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập.
Mỗi vị trí việc làm có một hoặc nhiều bậc nghề nghiệp
Bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm phản ánh yêu cầu về kiến thức, kỹ năng chuyên môn, mức độ phức tạp của công việc, trách nhiệm và phạm vi ảnh hưởng của vị trí đó. Tùy từng lĩnh vực, mỗi vị trí việc làm có thể được xác định một hoặc nhiều bậc nghề nghiệp, từ bậc 1 đến bậc 5.
Phụ lục ban hành kèm nghị định quy định cụ thể bậc nghề nghiệp áp dụng đối với từng vị trí việc làm trong nhiều lĩnh vực.
Chẳng hạn, giáo viên mầm non được bố trí ở các bậc nghề nghiệp từ bậc 2 đến bậc 4; giáo viên tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông từ bậc 3 đến bậc 4. Đối với lĩnh vực giáo dục đại học, vị trí giảng viên được xác định từ bậc 3 đến bậc 5.
Ở các lĩnh vực khác như khoa học và công nghệ, văn hóa, y tế, nông nghiệp, tài nguyên và môi trường, thông tin và truyền thông..., nghị định cũng quy định cụ thể bậc nghề nghiệp tương ứng đối với từng vị trí việc làm.
Chi tiết áp dụng tiền lương theo bậc nghề nghiệp vị trí việc làm
Theo Điều 7 Nghị định 232/2026/NĐ-CP quy định về bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm viên chức như sau:
- Bậc nghề nghiệp của từng vị trí việc làm được quy định thống nhất trong Danh mục vị trí việc làm tại Phụ lục II và Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này và được áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước. Bậc nghề nghiệp được xác định theo 05 bậc, từ bậc 1 đến bậc 5, trong đó bậc 1 là bậc thấp nhất và bậc 5 là bậc cao nhất.
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quy mô và mức độ phát triển, đơn vị sự nghiệp công lập xác định số bậc nghề nghiệp áp dụng đối với từng vị trí việc làm trong đơn vị nhưng không vượt quá số bậc nghề nghiệp được quy định cho vị trí việc làm đó tại Phụ lục II và Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này.
- Viên chức được bố trí vào một bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm phù hợp với năng lực và yêu cầu nhiệm vụ được giao. Viên chức được bố trí vào bậc nghề nghiệp nào thì được xếp lương tương ứng với bậc nghề nghiệp đó theo quy định tại khoản 3 Điều này. Việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức không làm thay đổi vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhiệm. Việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức được thực hiện theo quy định của pháp luật về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.
- Trong thời gian chưa thực hiện chế độ tiền lương mới theo quy định của cấp có thẩm quyền, viên chức được tuyển dụng, tiếp nhận theo quy định của Luật Viên chức được áp dụng Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước (Bảng 3) ban hành kèm Nghị định 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Việc áp dụng bảng lương thực hiện như sau:
+ Bậc 1 áp dụng lương viên chức loại B;
+ Bậc 2 áp dụng lương viên chức loại A0;
+ Bậc 3 áp dụng lương viên chức loại A1;
+ Bậc 4 áp dụng lương viên chức loại A2, nhóm 1 (A2.1);
+ Bậc 5 áp dụng lương viên chức loại A3, nhóm 1 (A3.1).
- Viên chức được bố trí đảm nhiệm vị trí việc làm quản lý quy định tại Nghị định này được xếp lương theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ hoặc vị trí việc làm hỗ trợ đang giữ và hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, quản lý tương ứng với vị trí đảm nhiệm theo quy định của pháp luật tiền lương hiện hành.
Quy định tỷ lệ bố trí viên chức theo từng bậc
Không chỉ quy định bậc nghề nghiệp, nghị định còn đưa ra nguyên tắc xác định tỷ lệ viên chức ở từng bậc nghề nghiệp đối với mỗi vị trí việc làm.
Theo đó, đối với các vị trí việc làm có sử dụng bậc nghề nghiệp cao nhất là bậc 5, số viên chức ở bậc này không vượt quá 30% tổng số biên chế được giao cho vị trí việc làm. Số viên chức ở bậc nghề nghiệp thấp hơn gần nhất với bậc 5 không vượt quá 40%. Đối với các bậc còn lại, đơn vị sự nghiệp công lập xác định tỷ lệ phù hợp với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ.
Quy định về tỷ lệ bố trí theo bậc nghề nghiệp không áp dụng đối với các vị trí việc làm không xác định bậc nghề nghiệp hoặc chỉ sử dụng một bậc nghề nghiệp.
Bên cạnh đó, mỗi vị trí việc làm phải có bản mô tả công việc và khung năng lực. Bản mô tả công việc phải thể hiện mục tiêu của vị trí, các nhiệm vụ chính, sản phẩm đầu ra có thể đo lường, phạm vi quyền hạn, mối quan hệ công tác cùng các yêu cầu về trình độ chuyên môn, kỹ năng và phẩm chất của người đảm nhiệm vị trí.
Nghị định quy định chậm nhất đến ngày 1/7/2027, các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh phải hoàn thành việc phê duyệt vị trí việc làm viên chức theo quy định mới.
Trong thời gian chuyển tiếp, các quyết định về vị trí việc làm đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước khi nghị định có hiệu lực vẫn tiếp tục được áp dụng để tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức cho đến khi được thay thế theo quy định mới.