Giao diện mới của VnDoc Pro: Dễ sử dụng hơn - chỉ tập trung vào lớp bạn quan tâm. Vui lòng chọn lớp mà bạn quan tâm: Lưu và trải nghiệm
Đóng
Điểm danh hàng ngày
  • Hôm nay +3
  • Ngày 2 +3
  • Ngày 3 +3
  • Ngày 4 +3
  • Ngày 5 +3
  • Ngày 6 +3
  • Ngày 7 +5
Bạn đã điểm danh Hôm nay và nhận 3 điểm!
Nhắn tin Zalo VNDOC để nhận tư vấn mua gói Thành viên hoặc tải tài liệu Hotline hỗ trợ: 0936 120 169

Phân tích đặc điểm nhân vật Vũ Nương lớp 7

Lớp: Lớp 7
Môn: Ngữ Văn
Dạng tài liệu: Văn mẫu
Bộ sách: Kết nối tri thức với cuộc sống
Loại File: Word
Phân loại: Tài liệu Tính phí

Dàn ý Phân tích đặc điểm nhân vật Vũ Nương

>> HS tham khảo các dàn ý chi tiết tại đây Dàn ý Phân tích đặc điểm nhân vật Vũ Nương lớp 7

Phân tích đặc điểm nhân vật Vũ Nương - Mẫu 1

“Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày”

Ấy là lời ca dao đượm buồn của nhân dân ta khi nói về thân phận những người phụ nữ. Số phận của họ bấp bênh tựa như những “hạt mưa”, “tấm lụa đào”, “giếng giữa đàng”. Đến với văn học viết, tác giả Nguyễn Dữ lại đem đến cho ta những cảm nhận thấm thía, chân thực hơn về chân dung người phụ nữ qua nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”.

Mở đầu tác phẩm, tác giả đặt nhân vật Vũ Nương vào những hoàn cảnh khác nhau để bộc lộ vẻ đẹp đời sống và tính cách nhân vật. Nguyễn Dữ đã giới thiệu “Vũ Thị Thiết người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thùy mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp”. Chỉ bằng một câu văn ngắn, Nguyễn Du đã khái quát một cách đầy đủ và trọn vẹn vẻ đẹp tâm hồn của Vũ Nương, ở nàng hội tụ đầy đủ cả công - dung - ngôn - hạnh. Chàng Trương cũng bởi mến cái dung hạnh ấy, nên mới xin với mẹ trăm lạng vàng cưới về.

Vũ Nương là một người vợ yêu chồng, thủy chung với chồng và luôn khao khát hạnh phúc gia đình. Trong cuộc sống vợ chồng bình thường, nàng luôn giữ gìn khuôn phép dù chồng nàng đa nghi, phòng ngừa quá mức nhưng gia đình chưa từng xảy ra bất hoà. Cưới nhau chưa được bao lâu, Trương Sinh phải ra trận. Khi tiễn chồng đi, Vũ Nương rót chén rượu đầy, dặn dò chồng những lời tình nghĩa đằm thắm. Nàng vô cùng cảm thông và xót xa cho những nỗi gian lao mà chồng sẽ phải chịu đựng chốn xa trường. Xa chồng là thế, nhưng nàng vẫn là người vợ hết mực chung thuỷ với chồng. Ngày qua tháng lại, thời gian thấm thoát thoi đưa, nàng nhớ chồng khôn nguôi, nỗi nhớ dài dằng dẵng không thể ngăn được. Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì lòng nàng dường như quặn thắt lại đầy xót xa. Về sau, nàng hạ sinh một đứa con trai, đặt tên là Đản. Không chỉ là một người vợ thủy chung, nàng còn là một người mẹ hiền. Nàng mong muốn bù đắp cho đứa con trai thiếu vắng tình cha nên đã chỉ cái bóng trên tường và bảo rằng đó là cha Đản.

Đức tính hiếu thảo của Vũ Nương được thể hiện khi mẹ chồng cũng vì nhớ con trai mà sinh bệnh nặng. Nàng đã tận tình chăm sóc mẹ chồng già yếu, ốm đau. Nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn, bởi yếu tố tâm linh đối với người xưa là rất quan trọng. Nhưng việc gì đến rồi cũng sẽ đến, bà mẹ không qua khỏi. Trước khi rời xa cõi đời, bà đã để lại lời trăng trối cuối cùng như một sự cảm tạ và ghi nhận công lao của Vũ Nương đối với gia đình. Sự hiếu thảo của Vũ Nương với mẹ chính khiến ta nhớ đến nhân vật Thúy Kiều trong "Truyện Kiều” của Nguyễn Du, một cô gái sẵn sang bản thân mình để cứu cha và em. Những người phụ nữ ấy thật đáng để chúng ta tôn trọng và yêu thương.

Qua một năm sau, Trương Sinh đã được trở về nhà. Chàng hay tin mẹ đã qua đời, con vừa học nói. Bi kịch của Vũ Nương đã bắt đầu từ giây phút đứa con ngây thơ nói về người cha của mình, rằng đó là “một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”. Khi bị Trương Sinh nghi oan, nàng đã tìm mọi cách để chồng hiểu cho tấm lòng thủy chung và trong sạch của mình. Nhưng thật đáng tiếc, Trương Sinh như đẩy nàng đến bước đường cùng khiến Vũ Nương mượn dòng nước Hoàng Giang để rửa nỗi oan nhục. Nàng đã phải chết oan ức nhưng nàng không hề oán trách, hận thù. Nghe chàng Phan kể về gia đình, về nhà cửa, nàng vẫn ứa nước mắt ra mà khóc, vẫn nặng lòng thương nhớ chồng con, nhớ nhung quê hương, vẫn quả quyết “ắt có ngày tìm về quê cũ”. Dù ở chốn cung nước, nàng vẫn khao khát được phục hồi danh dự, mong muốn chàng Trương lập đàn giải oan cho mình. Trong buổi lễ ở bến Hoàng Giang, nàng đã trở về để nói lời tạ từ. Cuộc đời Vũ Nương tuy ngắn ngủi nhưng nàng đã làm tròn bổn phận của người phụ nữ người vợ thủy chung, một người mẹ thương con, một người con dâu hiếu thảo.

Bằng nghệ thuật xây dựng tình huống truyện hấp dẫn với chi tiết thắt nút - mở nút, miêu tả nhân vật khéo léo, kết hợp các yếu tố hoang đường kì ảo, “Chuyện người con gái Nam Xương” đã giúp người đọc cảm nhận được những nét đẹp tâm hồn ở nhân vật Vũ Nương. Nàng vừa là một người vợ thủy chung, vừa một người mẹ thương con và một người con dâu hiếu thảo. Qua nhân vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã cho thấy tinh thần nhân đạo cao cả. Ông ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp của những người phụ nữ trong xã hội xưa và lên án những thế lực tước đoạt hạnh phúc con người.

Phân tích đặc điểm nhân vật Vũ Nương - Mẫu 2

“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Đó những tiếng thơ thương xót cho những người cô gái tài sắc vẹn toàn mà số phận lại trớ trêu trong xã hội xưa của đại thi hào Nguyễn Du. Soi chiếu vào chặng đường phát triển của văn hoc trung đại Việt Nam, ta bắt gặp không ít tác phẩm viết về nỗi niềm của người phụ nữ. Đến với thể loại truyền kì, tác phẩm tiêu biểu nhất viết về số phận người phụ nữ chính là “Người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, với đỉnh cao về việc xây dựng hình tượng người phụ nữ trong xã hội phong kiến qua nàng Vũ Nương.

Chân dung Vũ Nương được tác giả khắc họa rất đầy đủ. Nguyễn Dữ miêu tả nàng “tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”. Vẻ đẹp của nàng khiến Trương Sinh “xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về”.Câu văn tuy ngắn gọn nhưng đã thể hiện rõ rằng Vữ Nương có vẻ đẹp toàn diện cả về hình thức và tâm hồn, là đại diện tiêu biểu cho hình ảnh tài sắc vẹn toàn của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Nguyễn Dữ tập trung khắc họa vẻ đẹp phẩm chất và tâm hồn cao quý của Vũ Nương. Nhà văn đã đặt nhân vật vào những tình huống cụ thể. Khi lấy chồng, biết Trương Sinh có tính hay ghen, nàng luôn nhường nhịn, “giữ gìn khuôn phép” nên gia đình chưa từng phải thất hòa. Khi tiễn chồng đi lính, Vũ Nương đã rót chén rượu đầy, dặn dò chồng bằng những lời tha thiết, cảm thông với nỗi vất vả của chồng, mong chồng trở về bình an. Trong những ngày Trương Sinh chiến đấu nơi sa trường, nàng càng bộc lộ là một người thủy chung, yêu chồng hết mực. Mỗi khi thấy “bướm lượn đầy vườn”, “mùa xuân mây che kín núi”, nàng lại chạnh lòng thương nhớ chồng.

Trong mối quan hệ với mẹ chồng và con cái, Vũ Nương còn là dâu thảo, mẹ hiền. Mẹ chồng già yếu, đổ bệnh nên nàng hết sức thuốc thang, thường xuyên lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn mong cho mẹ mau chóng khỏe. Khi bà mất, nàng lo tang ma chu đáo, hiếu nghĩa tròn đầy. Mối quan hệ giữa mẹ chồng nàng dâu tưởng như mang tính chất ràng buộc, hiếm khi hòa thuận. Thế nhưng những lời trăng trối cuối cùng của mẹ chồng đã khẳng định công lao của Vũ Nương với gia đình chồng. Không chỉ vậy, khi là một người mẹ, Vũ Nương cũng hết sức thương con. Nàng một mình nuôi dạy con, chăm sóc nhà cửa. Vì xót xa khi thấy con mong ngóng cha, nàng đã trỏ bóng mình trên tường và nói đó là người cha. Qua những chi tiết trên, ta thấy Vũ Nương là thực sự là một con người công - dung - ngôn - hạnh. Nguyễn Dữ đã dành cho nàng thái độ trân trọng, ngợi ca hết mực.

Với những nét đẹp trên, những tưởng Vũ Nương sẽ có một cuộc đời yên ấm, hạnh phuc nhưng ngờ đâu, số phận nàng lại là chuỗi ngày bi kịch. Vũ Nương vừa là nạn nhân của chế độ nam quyền, là “con kẻ khó” nên bị mua bán như một món hàng qua “trăm lạng vàng”, vừa là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa. Trương Sinh bị bắt lên đường ra trận, phục vụ cho lợi ích của những tập đoàn phong kiến. Cuộc chiến tranh ấy đã khiến vợ chồng chia lìa, nàng phải gồng gánh công việc gia đình, con cái không được biết mặt cha và dẫn đến nỗi oan khuất thấu trời. Khi Trương Sinh trở về nghi ngờ nàng thất tiết nàng chỉ có thể khóc và thanh minh bằng những lời lẽ tha thiết, dịu dàng, nhắc đến tình nghĩa vợ chồng. Vũ Nương không thể phản kháng mà chỉ biết chờ mong chồng hiểu cho tấm lòng của mình. Dẫu Trương Sinh có mắng nhiếc, đánh đuổi, không cho cơ hội giãi bày, nàng cũng không hề oán giận. Họ hàng, làng xóm đứng ra bảo vệ Vũ Nương nhưng dưới sự hà khắc của chế độ nam quyền, sự phân biệt giàu - nghèo, Vũ Nương đàng bất lực, không thể cứu vãn gia đình khỏi nguy cơ tan vỡ. Cuối cùng, nàng đau đớn, tuyệt vọng, chỉ còn cách mượn tạm nước sông Hoàng Giang để chứng minh sự trong sạch. Nàng “tắm gội chay sạch” rồi ra bờ sông nói lời nguyện cầu mong thần linh chứng giám. Hành động này thể hiện cố gắng bảo vệ danh dự, tiết hạnh vô cùng mãnh liệt của Vũ Nương. Đối với nàng, lòng tự trọng là thứ quý giá còn hơn cả sinh mạng.

Tác phẩm mang đậm giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo, gieo vào lòng người hồi chuông cảnh tỉnh về cách sống, đạo đức làm người. Với “Chuyện người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ đã trở thành “nhà nhân đạo từ trong cốt tủy". Hình tượng nàng Vũ Nương đẹp người đẹp nết nhưng bất hạnh cũng theo đó mà sống mãi trong lòng người đọc, trường tồn trước sự băng hoại của thời gian.

Phân tích đặc điểm nhân vật Vũ Nương - Mẫu 3

Khi nhận xét về “Chuyện người con gái Nam Xương”, nhà phê bình Đồng Thị Sáo cho rằng: “Hạnh phúc trong cuộc đời Vũ Thị Thiết là một thứ hạnh phúc vô cùng mong manh, ngắn ngủi. Mong manh như sương như khói và ngắn ngủi như kiếp sống của đoá phù dung sớm nở, tối tàn”. Quả thực, viết về thân phận người phụ nữ xưa nay không hiếm nhưng số phận bi thảm đến cùng cực Vũ Nương vẫn khiến biết bao thế hệ người đọc thương cảm.

Tác giả đặt nhân vật Vũ Nương vào những hoàn cảnh khác nhau để bộc lộ phẩm chất nhân vật. Nguyễn Dữ đã giới thiệu “Vũ Thị Thiết người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thùy mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp”. Quả thực, ở nàng hội tụ đầy đủ cả công - dung - ngôn - hạnh. Điều ấy đã khiến chàng Trương cảm mến mà xin với mẹ trăm lạng vàng cưới về. Nổi bật nhất ở Vũ Nương chính là những phẩm chất tâm hồn, nhân cách cao đẹp. Điều này được thể hiện trong mối quan hệ với những người trong gia đình. Với chồng, Vũ Nương luôn luôn yêu thương và thủy chung. Nàng luôn giữ gìn khuôn phép nên dù chồng nàng đa nghi, phòng ngừa quá mức nhưng gia đình chưa từng xảy ra bất hoà. Khi tiễn chồng đến chốn sa trường, Vũ Nương đã rót chén rượu đầy mà bày tỏ tâm tư, mong chồng bình an chứ không cầu danh lợi. Chi tiết này chứng tỏ nàng vô cùng cảm thông và xót xa cho những nỗi gian lao, vất vả của chồng. Trong thời gian xa cách, Vũ Nương thương nhớ chồng khôn nguôi: “Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết, tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”.

Không chỉ là người vợ hiền, Vũ Nương còn là người mẹ tốt và là người con dâu hiếu thảo. Nàng hết lòng nuôi dạy con cái bé Đản. Vì mong muốn bù đắp cho đứa con trai thiếu vắng tình cha nên Vũ Nương đã chỉ cái bóng trên tường và bảo rằng đó là cha Đản. Đức tính hiếu thảo của Vũ Nương được thể hiện khi mẹ chồng cũng vì nhớ con trai mà sinh bệnh nặng. Nàng đã tận tình chăm sóc mẹ chồng già yếu, ốm đau. Lời mẹ chồng nói trước khi qua đời đã cho thấy tấm lòng hiếu thảo của Vũ Nương đã lay động được cả đất trời: “Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời. Mẹ không phải không muốn đợi chồng con về, mà không gắng ăn miếng cơm miếng cháo đặng cùng vui sum họp…. Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.

Thế nhưng, đau đớn thay, người ta thường nói: “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”. Bi kịch của Vũ Nương lại bắt đầu từ một câu nói ngây thơ của đứa con và sự đa nghi, gia trưởng, hồ đồ của người chồng. Khi bị Trương Sinh nghi oan, nàng đã lấy mọi lời lẽ thanh minh nhưng Trương Sinh vẫn đẩy nàng đến bước đường cùng. Cuối cùng,Vũ Nương đành mượn dòng nước Hoàng Giang để rửa nỗi oan nhục. Ngay trong hoàn cảnh khốn cùng ấy, ta vẫn thấy được sự thanh cao, nhân hậu, vị tha ngời sáng nơi người phụ nữ. Sống nơi thủy cung an nhàn, Vũ Nương vẫn nhớ về quê hương, gia đình và thề một ngày sẽ tìm về quê cũ. Vũ Nương vẫn khao khát được phục hồi danh dự, mong muốn chàng Trương lập đàn giải oan cho mình. Trong buổi lễ giải oan ở bến Hoàng Giang, nàng đã trở về để nói lời tạ từ mà không một lời oán trách.

Bằng nghệ thuật xây dựng tình huống truyện, miêu tả nhân vật tài tình, chứa đựng yếu tố hoang đường kì ảo, “Chuyện người con gái Nam Xương” đã đem đến cho người đọc cảm nhận sâu sắc về nhân vật Vũ Nương. Qua nhân vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp của những người phụ nữ trong xã hội xưa và lên án những thế lực tước đoạt hạnh phúc con người.

Phân tích đặc điểm nhân vật Vũ Nương - Mẫu 4

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam luôn là đề tài khơi nguồn cảm hứng sáng tác của nhiều nhà văn, nhà thơ. Một trong số đó ta không thể không nhắc đến tác giả Nguyễn Dữ với tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương. Nổi bật trong tác phẩm là hình ảnh người con gái Vũ Nương dịu hiền, nết na nhưng có số phận bất hạnh.

Chuyện người con gái Nam Xương là một truyện ngắn nổi bật được trích từ Truyền kì mạn lục, kể về người con gái tên là Vũ Nương. Ở nàng hội tụ đầy đủ những vẻ đẹp công dung ngôn hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ. Vốn là cô gái xinh đẹp, dịu dàng, thùy mị nết na nhưng khi về nhà chồng, nàng vẫn giữ nguyên được vẻ đẹp của mình. Biết chồng mình có tính hay ghen nên Vũ Nương luôn giữ gìn khuôn phép, bảo vệ hạnh phúc gia đình để gia đình luôn yên ấm. Chiến tranh xảy ra, chồng nằm trong danh sách đi lính, ngày tiễn Trương Sinh, nàng chỉ tha thiết mong mang hai chữ “bình yên” trở về. Nàng không ham giàu sang, danh vọng mà chỉ mong một cuộc sống yên ổn, êm đềm bên gia đình bé nhỏ. Giây phút chia tay nghẹn ngào, nỗi lòng của Vũ Nương được chồng và gia đình thấu hiểu, yêu thương nhiều hơn. Trong những năm tháng xa chồng, nàng luôn nhớ Trương Sinh tha thiết, nàng ở nhà hết lòng hết dạ chăm sóc cha mẹ và lo ma chay tươm tất, chu đáo khi họ qua đời. Cảm động trước tấm lòng thảo thơm của người con dâu, cha mẹ chồng xúc động nói trời sẽ không phụ lòng con như cách con đã chẳng phụ mẹ. Để chồng gần con hơn trong những ngày ở chiến trường xa nhà, nàng đã trỏ bóng mình trên tường và nói đó là cha bé Đản. Tấm lòng của nàng, đến tận trời xanh cũng thấu đáo. Những tưởng hạnh phúc sẽ đến với người con gái đức hạnh đó, tuy nhiên một bi kịch đã xảy ra khi chồng nàng trở về.

Vốn có tính ghen tuông, lại thêm muộn phiền khi được tin mẹ mất ngày trở về nhà. Trương Sinh không giữ được bình tĩnh nên khi nghe bé Đản nói đêm nào cha mình cũng đến gặp mình, chàng đã không xác nhận thông tin này mà đã không tiếc lời mắng nhiếc vợ mình, đánh đuổi nàng đi không cho nàng có lấy một lời thanh minh. Trước nỗi tủi nhục, tai tiếng này, Vũ Nương không chịu đựng nổi nên đã gieo mình xuống sông để tự tử, bảo vệ danh tiết cho chính mình. Nàng đã lựa chọn cách tiêu cực nhất, đau xót nhất cho thân phận mình thay vì những hạnh phúc đáng lẽ nàng được hưởng khi chồng trở về. Từ đây ta có thể thấy, trong xã hội cũ dù cho người phụ nữ có đức hạnh, tốt đẹp bao nhiêu thì cũng chưa chắc được hưởng hạnh phúc xứng đáng với đức hạnh của mình. Vô cùng chua xót và đau thương. Tấm lòng son sắt của nàng tất thảy cả trời đất đều biết, nên khi tự tử, nàng được Linh Phi đưa về thủy cung và sống ở đó. Không còn vướng bận, tha thiết chuyện nhân gian, nàng được thuộc về một nơi an yên, hạnh phúc, nơi nàng không còn có những oan ức.

Câu chuyện lấy đi cảm xúc của ban thế hệ bạn đọc, đọng lại trong ta những niềm thương cảm về nhân vật phẩm hạnh nhưng cũng bất hạnh - Vũ Nương. Từ đây, ra rút ra cho chính mình những bài học quý báu về cách làm người, cách lắng nghe người khác, cách bình tĩnh trong mọi tình huống để không hiểu lầm người khác và sống tốt hơn từng ngày.

Phân tích đặc điểm nhân vật Vũ Nương - Mẫu 5

Nguyễn Dữ là cây bút văn xuôi xuất sắc sống ở thời kì chế độ phong kiến bắt đầu bước vào giai đoạn suy vong, các cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến kéo dài liên miên gây đau khổ cho nhân dân. Vốn không đồng tình với chế độ phong kiến bất công, thối nát, ông đã thể hiện kín đáo tình cảm ấy của mình qua tác phẩm Truyền kì mạn lục gồm hai mươi truyện ngắn, trong đó tiêu biểu là Chuyện người con gái Nam Xương và nhân vật Vũ Nương.

Theo lời kể của tác giả ngay từ đầu tác phẩm thì Vũ Nương là một người con gái thuỳ mị, nết na lại có tư dung tốt đẹp. Và những phẩm hạnh ấy đã được bộc lộ trong những hoàn cảnh khác nhau. Trong cuộc sống gia đình, Vũ Nương là người vợ hiền thục. Nàng lấy chồng là Trương Sinh, vốn là một người ít học, lại có tính đa nghi, phòng ngừa quá mức. Vì thế, nàng đã biết lựa tính chồng, giữ cho khỏi bất hòa, gia đình luôn được trong ấm, ngoài êm. Thế rồi đất nước xảy ra nạn binh đao, Trương Sinh phải đi lính, nàng lại càng bộc lộ rõ hơn phẩm chất tốt đẹp của mình. Lời nói, lời dặn dò trong cảnh tiễn chồng của nàng đã khiến mọi người cảm động: chỉ xin ngày về mang theo hai chữ bình yên.

Khi xa chồng, Vũ Nương luôn làm tròn bổn phận của người vợ hiền, dâu thảo. Nàng sinh con, quán xuyến công việc gia đình, chăm sóc mẹ già đau ốm. Đặc biệt khi người mẹ mất, nàng dã lo ma chay chu đáo như với cha mẹ của mình. Qua lời trăng trối của bà mẹ trước lúc lâm nguy khẳng định công lao, nhân cách của Vũ Nương đối với gia đình: “Trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con không phụ mẹ”.

Thực tế oan nghiệt đã đẩy nàng vào cảnh ngộ bất hạnh, éo le, oan khuất. Nàng vốn dĩ là một người phụ nữ rất mực thuỷ chung, vậy mà bây giờ đây lại bị nghi oan thất tiết. Chỉ vì lời nói vô tình ngây thơ của con trẻ mà Vũ Nương bị chồng ruồng rẫy, hắt hủi, đánh đập đuổi đi, bị gán cho tội nhục nhã nhất đối với đức hạnh của người phụ nữ. Những lời bênh vực của bà con hàng xóm cùng những lời phân trần giãi bày hết sức thê thảm không cứu được nàng thoát khỏi nỗi nhục nhã, Vũ Nương đã quyết liệt tìm đến cái chết để bảo toàn danh dự của mình. Nàng đã gieo mình xuống sông, kết thúc cuộc đời người phụ nữ bất hạnh.

Qua việc xây dựng bi kịch của Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã bày tỏ thái độ xót xa thương cảm cùng niềm trân trọng đối với người phụ nữ, phản ánh bi kịch chung về số phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến. Truyện đã in sâu đậm vào trái tim người đọc, khiến ta mãi day dứt, xót xa, trào dâng niềm thương cảm nghẹn ngào.

Phân tích đặc điểm nhân vật Vũ Nương - Mẫu 6

Chuyện người con gái Nam Xương là một trong những tác phẩm hay và đặc sắc nhất của tác giả Nguyễn Dữ. Tác phẩm được lấy cốt từ truyện cổ dân gian “Vợ chàng Trương” kết hợp với những sáng tạo của tác giả tạo nên một áng văn tuyệt bút. Trong truyện nổi bật lên là vẻ đẹp và số phận bất hạnh của nhân vật chính – Vũ Nương.

Trước hết Vũ Nương là người vợ hiền thục, thủy chung, trong trắng, một lòng một dạ với chồng. Khi mới về nhà chồng, biết chồng mình có tính hay ghen nên Vũ Nương luôn giữ gìn khuôn phép, bảo vệ hạnh phúc gia đình để gia đình luôn yên ấm. Chiến tranh xảy ra, chồng nằm trong danh sách đi lính, ngày tiễn Trương Sinh, nàng chỉ tha thiết mong mang hai chữ “bình yên” trở về. Nàng không ham giàu sang, danh vọng mà chỉ mong một cuộc sống yên ổn, êm đềm bên gia đình bé nhỏ. Giây phút ngậm ngùi tiễn chồng ra trận càng cho thấy rõ hơn tình yêu thương, tấm lòng Vũ Nương dành cho Trương Sinh. Bởi vậy trong những năm tháng xa chồng, nàng luôn nhớ Trương Sinh tha thiết, thậm chí nàng còn trỏ bóng mình trên tường vừa để dỗ con vừa để vơi bớt nỗi nhớ chồng. Ngay cả khi bị Trương Sinh nghi oan thất tiết thì tình yêu, sự thủy chung của vẫn được thể hiện qua những lời phân trần hết sức tha thiết, mong tìm cách hàn gắn lại hạnh phúc gia đình. Nhưng mọi cố gắng của nàng đều đã không được đền đáp, dù phải tìm đến cái chết để chứng minh tấm lòng của mình nàng vẫn không hề oán hận, ở thủy cung nàng vẫn mong ngóng ngày về để đoàn tụ với gia đình.

Nàng còn là một người con dâu hết sức hiếu thảo. Chồng đi lính nàng ở nhà chăm mẹ chồng, bà vì thương nhớ con bệnh ngày một nặng, nàng thuốc thang cầu khấn trời phật mong cho mẹ nhanh khỏi bệnh, nàng hết lòng chăm sóc. Tấm lòng ấy được thể hiện rõ nhất qua lời cuối cùng bà nói trước khi mất: “sau này, trời xét lòng thành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Lời nói ấy chính là lời ghi nhận nhân cách và công lao to lớn của Vũ Nương với mẹ chồng. Khi mẹ chồng chết nàng thương xót làm ma chay chu đáo như với cha mẹ đẻ của mình. Với đứa con nhỏ, nàng là người hết mực yêu thương con. Nàng chăm sóc bé Đản chu đáo, hiểu được những thiếu thốn của con, nàng đã chỉ bóng mình trên vách để con luôn được sống trong tình yêu thương của cha.

Không chỉ vậy, nàng còn là người phụ nữ trọng nhân phẩm, tình nghĩa và lòng bao dung, vị tha. Bi kịch lớn nhất của đời nàng là bị chồng nghi ngờ và không làm cách nào để minh oan được. Thất vọng, đau đớn nàng phải tìm đến cái chết để bảo vệ nhân phẩm của mình. Khi Trương Sinh lập đàn giải oan, Vũ Nương chỉ trở về nói lời đa tạ rồi từ biệt. Nàng không hề trách móc, oán hận Trương Sinh, điều đó đã giúp chồng vơi bớt nỗi lòng, nỗi ân hận. Người phụ nữ nào cũng mong muốn được hưởng cuộc sống hạnh phúc từ hơi ấm gia đình, Vũ Nương cũng không phải trường hợp ngoại lệ, nhưng nàng không trở về là bởi đã giữ lời hứa với Linh Phi “thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ”. Vũ Nương là hình ảnh tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam, mang trong mình vẻ đẹp phẩm chất rất đáng trân trọng, ngợi ca.

Với nghệ thuật xây dựng truyện độc đáo, hấp dẫn tác phẩm đã vẽ nên chân dung đẹp đẽ đức hạnh toàn tài của người phụ nữ phong kiến xưa mà đại diện tiêu biểu là nàng Vũ Nương. Nhưng những người phụ nữ ấy phải chịu nỗi oan khuất lạ thường, bị tước đoạt hạnh phúc. Qua đó, tác phẩm đề cao vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ, đồng thời cảm thương cho số phận bất hạnh của họ. Và lên án, tố cáo xã hội nam quyền phi nghĩa đẩy con người đến bước đường cùng.

Phân tích đặc điểm nhân vật Vũ Nương - Mẫu 7

Trong văn học dân gian và văn học viết của nước ta, người phụ nữ bình dân đã nêu cao những giá trị cao đẹp về đạo đức, phẩm chất. Nhưng sống trong xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công, oan trái, họ phải chịu nhiều đau khổ và bất hạnh. Đọc “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ ta thương Vũ Thị Thiết phải chịu nỗi oan khuất và để giải nỗi oan, nàng đã tìm đến cái chết thật thương tâm.

Nguyễn Dữ giới thiệu với ta nhân vật Vũ Nương - một phụ nữ đẹp người, đẹp nết. Nàng có tư dung đẹp, tính tình lại hiền dịu, nết na. Khi làm vợ Trương Sinh, một người chồng có tính đa nghi, nàng vẫn giữ gìn khuôn phép để không xảy ra cảnh bất hoà. Hạnh phúc chồng vợ sum vầy chưa được bao lâu, chiến tranh xảy ra, chồng phải ra trận, nàng tiễn chồng lên đường với tâm trạng đau khổ. Lời nói với chồng trong giờ phút chia tay thật chân tình, cảm động làm cho “mọi người đều ứa hai hàng lệ”. “Nàng chẳng cầu mong chồng đeo ấn phong hầu mà chỉ cầu xin chồng trở về bình yên vô sự”. Nguyện vọng của nàng thật giản dị mà sâu sắc.

Mấy năm chồng đi xa, ở nhà một tay nàng lo toan mọi công việc gia đình, nuôi con từ trứng nước đến khi lớn khôn. Nàng còn là người con dâu hiếu thảo rất mực, khi mẹ chồng đau ốm nàng “hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn”. Khi bà cụ qua đời, nàng hết lòng thương xót, lo ma chay tế lễ chu toàn. Sự ăn ở đối xử hết lòng với mẹ chồng chẳng khác nào đối với cha mẹ mình vậy. Tóm lại, Vũ Nương là một phụ nữ vẹn toàn, thể hiện được những phẩm chất đạo đức cao quý của người vợ, người mẹ, người con. Con người như vậy đáng ra phải được hưởng hạnh phúc đầm ấm của gia đình.

Chiến tranh chấm dứt, chồng trở về, niềm vui chưa trọn vẹn thì bi kịch xảy ra. Trương Sinh - một kẻ vô học, thô lỗ, đa nghi, hay ghen đã nghe lời đứa con ngây thơ, không dò hỏi ngọn ngành, nghi ngờ vợ mình không chung thủy. Nàng đau khổ, khóc lóc bày tỏ nỗi oan với chồng nhưng Trương Sinh một mực vẫn buộc tội vợ, thậm chí còn mắng nhiếc, đánh, đuổi nàng đi. Họ hàng, làng xóm đều biện minh cho nàng nhưng cũng không thay đổi được thái độ của Trường Sinh. Không còn cách nào để minh oan được nữa, nàng chọn cái chết để giãi bày tấm lòng chung thủy, trong trắng của mình. Thật tội nghiệp cho Vũ Nương, ba năm trời cách biệt vẫn giữ gìn một tiết, ấy mà khi chồng trở về lại bị nghi oan, một con người phẩm hạnh như thế, lại mang tiếng nhuốc nhơ. Bi kịch bị dồn nén đến cao độ, trong cảnh ngộ đó, Vũ Nương chỉ có một con đường tìm đến cái chết. 

Trong xã hội phong kiến, những người phụ nữ đức hạnh, hiền thục như Vũ Nương đều chịu chung số phận bi đát. Câu chuyện về cái chết thương tâm của Vũ Nương càng làm cho ta thông cảm với những nỗi đau của người phụ nữ trong xã hội cũ. Tác phẩm còn là tiếng nói tố cáo chiến tranh phong kiến đã làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều lứa đôi, gia đình.

Phân tích đặc điểm nhân vật Vũ Nương Ngắn gọn

>> HS tham khảo các bài văn mẫu ngắn gọn hơn ở đây Phân tích nhân vật Vũ Nương Ngắn gọn

Chọn file muốn tải về:
Đóng Chỉ thành viên VnDoc PRO/PROPLUS tải được nội dung này!
Đóng
79.000 / tháng
Đặc quyền các gói Thành viên
PRO
Phổ biến nhất
PRO+
Tải tài liệu Cao cấp 1 Lớp
30 lượt tải tài liệu
Xem nội dung bài viết
Trải nghiệm Không quảng cáo
Làm bài trắc nghiệm không giới hạn
Mua cả năm Tiết kiệm tới 48%

Có thể bạn quan tâm

Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
Sắp xếp theo