Bình giảng bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão

Bài văn mẫu dưới đây với đề tài: Bình giảng bài thơ "Tỏ lòng" của Phạm Ngũ Lão là tài liệu văn mẫu lớp 10 được VnDoc sưu tầm và đăng tải. Hi vọng, tài liệu này sẽ giúp ích cho quá trình dạy và học của quý thầy cô giáo và các em học sinh, giúp những tiết học Văn sinh động và hiệu quả hơn. Mời các bạn tham khảo.

VnDoc.com xin gửi tới bạn đọc Bình giảng bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão để bạn đọc cùng tham khảo. Bài viết tổng hợp 3 mẫu bài bình giảng về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão. Mời bạn đọc cùng tham khảo chi tiết tại đây.

1. Bình giảng bài thơ "Tỏ lòng" của Phạm Ngũ Lão mẫu 1

Phạm Ngũ Lão là một danh tướng thời Trần kiệt xuất, lập nhiều công lao đối với nước nhà. Ông sáng tác không nhiều nhưng những bài thơ ông viết ra đều có ý nghĩa rất lớn với dân tộc. "Tỏ lòng" là bài thơ nổi tiếng, được lưu truyền từ đời này sang đời khác vì khát vọng tự do, khát vọng được làm chủ, khát vọng là chính mình, khát vọng giành được độc lập tự do của những người trẻ. Đặc biệt là những đáng nam nhi "chí khí trải bốn phương".

Rất nhiều nhà chí sĩ yêu nước đã bộc lộ cái "tôi" cá nhân mãnh liệt thời còn trai trẻ như "Làm trai cho đáng nên trai" hay "lừng lẫy năm châu". Làm trai phải gánh vác việc nước, việc lớn, việc trọng đại.

Bài thơ "Tỏ lòng" (Thuật hoài) được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt với niêm luật chặt chẽ, bố cực rõ ràng và tư tưởng được gói gọn trong 4 câu thơ. Sự súc tích của bài thơ đã khiến cho người đọc cảm nhận được ý chí, tinh thần khải khái, lý tưởng sống của chính tác giả.

Mở đầu bài thơ tác giả viết:

Múa giáo non sông trải mấy thu

Hình ảo cây giáo gắn liền với chiến tranh, với tàn khốc và với cả mất mát. Đất nước ta đã phải hứng chịu những trận cuồng phong của kẻ đích, đã chịu bao thiệt thòi, hi sinh cả máu và nước mắt. Câu thơ toát lên phong thái cũng như chí khí của người ra trận. "Múa giáo" gợi lên sự uyển chuyển, mềm mại nhưng vẫn thoát lên vẻ dứt khoát, oai hùng. Tư thế ấy không chỉ diễn ra ở một thời, một giai đoạn nhất định mà đã "trải mấy thu". Khoảng thời gian đó không đếm được, chỉ ước lệ tượng trưng nhưng phần nào đã lột tả được hình ảnh người anh hùng thời chiến cần phải có khí chất và cốt cách lớn như thế nào.

Bình giảng bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão

Đến câu thơ tiếp theo:

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu

Nếu như ở câu thơ đầu tiên, tác giả đã khắc họa phong thái, đường nét của người anh hùng ra trận thì ở câu thơ thứ hai đã khuấy lên không khí hừng hực, khí thế chiến đấu dũng mạnh. Một đoàn quân ra trận, cuồng phong nổi lên có thể nuốt trôi trâu. Thực ra hình ảnh "nuốt trôi trâu" chỉ ẩn dụ, tượng trưng cho sức mạnh phi tường, kiên cường, không có một kẻ thù nào có thể địch nổi.

Chỉ với hai câu thơ, với giọng như dứt khoát, sôi nổi, hào hùng, đậm chất Đông A đã khiến cho hình tượng người anh hùng hiện lên rõ ràng, đậm nét hơn.

Sang hai câu thơ tiếp theo, tác giả đã bày tỏ quan điểm cũng như lý tưởng sống của đấng nam nhi ở trong đời:

Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn khi nghe chuyện vũ hầu

Làm đấng nam nhi ở trong đời cần phải có chí khí, có tham vọng, có ước mơ. Dù khó khăn, khắc nghiệt và gian nan như thế nào cũng phải phấn đấu. Và công danh là một trong những mục đích nam nhi đặt ra để cố gắng, để nỗ lực. Tác giả đã mượn hình ảnh Vũ Hầu (tức Khổng Minh) để nói lên chí khí, sự thông minh và tài ba của người anh hùng trong thiên hạ.

Chữ "nợ" trong câu thơ, hay quan niệm "nợ" của Phạm Ngũ Lão chính là nợ nước, nợ dân, nợ bản thân mình. Khi đất nước chưa được thống nhất, dân lao đao, nước mất nhà tan thì người anh hùng cảm thấy hổ thẹn với những bậc thánh nhân trong lịch sử. Đây cũng chính là tư tưởng rất tiến bộ của Phạm Ngũ Lão cần được tuyên truyền và phát huy.

Có thể nói bài thơ "Tỏ lòng" của Phạm Ngũ Lão đã giãi bày hết tâm tư, nguyện vọng và lý tưởng sống của một đáng nam nhi trong xã hội. Khâm phục và ngưỡng mộ nhân cách và tài năng của Phạm Ngũ Lão.

2. Bình giảng bài thơ "Tỏ lòng" của Phạm Ngũ Lão mẫu 2

Nói đến vẻ đẹp của đất nước Việt Nam, một đất nước với bốn nghìn năm lịch sử, với bốn nghìn thế hệ người Việt Nam ra trận, họ đã ngã xuống để bảo vệ quê hương. Nằm trong mạnh nguồn cảm xúc của lòng yêu nước ấy, làm sao ta có thể quên được đó là vẻ đẹp của con người thời nhà Trần. Có thể nói, đây là giai đoạn lịch sử mà dân tộc Việt Nam cảm thấy đáng tự hào nhất trong lịch sử bốn nghìn năm bảo vệ và dựng xây đất nước. Nhắc đến vẻ đẹp ấy, làm sao ta có thể quên được tên tuổi Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Trần Quốc Tuấn đã viết lên những vần thơ thần trong bài Hich tướng sĩ: “Ta thường đến buổi quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa…” . Ta cũng k thể nào quên được đó là hoàng tử Trần Quốc Toản, không được tham gia vào hội nghị Diên Hồng vì tuổi còn quá nhỏ, tay bóp nát quả cam về thêu sáu chữ vàng “Phá cường địch, báo hoàng ân” và hi sinh nơi sa trường. Thái sư Trần Thủ Độ từng tuyên ngôn với cuộc đời này rằng “Đầu của thần còn nằm trên cổ, xin bệ hạ hãy cứ yên lòng” và hình xăm trên tay của mỗi người lính thời nhà trần đó là hai chứ “Sát Thát” (giết giặc)”. Hình ảnh những bô lão, tất cả đều đồng loạt xin đánh chứ không có chuyện đầu hàng trước kẻ thù. Ba lần đại thắng quân Nguyên Mông, đây là những ngày tháng đáng nhớ nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam. Nằm trong bản giao hưởng ấy, ta đừng quên đó là tên tuổi của danh tướng Phạm Ngũ Lão. Xuất thân bình dân, không hề qua khoa bảng thế nhưng ông lại là danh tướng thời nhà Trần, trăm trận trăm thắng, văn võ song toàn. Mang trong mình là hào khí “Đông A”, mang khát vọng lập công danh. Điều này được thể hiện ở bài thơ “Thuật Hoài” . Bài thơ này được sáng tác trong những năm 1284, thông qua bài thơ này ta thấy cái chí làm trai ở đời, vẻ đẹp của con người và quân đội thời nhà Trần.Thuật Hoài được dịch là “Tỏ lòng”, Tỏ lòng ở đây không phải là bày tỏ tình cảm của nam nữ mà ở đây nghĩa là “tỏ chí làm trai”. Trong văn chương thời xưa, đặc biệt là văn trung đại, ta nhận thấy “văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí”. Đã là văn chương thì phải truyền tải được đạo lí, đã là thơ ca thì phải thể hiện được chí làm trai. Bài thơ Tỏ lòng được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, cả bài thơ chỉ vỏn vẹn trong bốn câu thơ 28 tiếng nhưng ta thấy được khí phách con người thời nhà Trần, quân đội nhà Trần và chí làm trai của Phạm Ngũ Lão

“Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,
Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu.
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”

Ở câu thơ thứ nhất

“Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu”

Trong bản dịch Tỏ lòng của Bùi Văn Nguyên “hoành sóc” được dịch thành “múa giáo”. Chúng ta biết rằng trong toán học, trục tung là trục nằm dọc còn trục hoành là trục nằm ngang. “Múa giáo”nghĩa là hành động khoe tài, ở đây phải là hoành sóc là tầm ngang của ngọn giáo là vẻ đẹp của con người thời nhà trần với tư thế sẵn sàng chiến đấu, tâm thế là bản lĩnh kiên cường. Vẻ đẹp ấy được xây dựng trên hai phương diện . Một là không gian là chiều rộng của giang sơn, hai là “cáp kỷ thu” biết bao những mùa thu đã trôi qua , thời gian đã trôi qua. Non sông ở đó và con người thời nhà trần vẫn kiên trì vững vàng, bản lĩnh tự tin sẵn sàng chiến đấu với những kẻ thù lớn hơn mình rất nhiều. Đây là bức chân dung tự họa của danh tướng Phạm Ngũ Lão, là bản lĩnh của con người thời nhà trần, cái tầm vóc của con người lớn lao mang tầm vóc của giang sơn.Trải qua biết bao nhiêu mùa thu mà họ vẫn ở đó, kiên cường, mạnh mẽ bảo vệ quê hương đất nước của mình.

Đến với câu thơ thứ hai là vẻ đẹp của quân đội thời nhà Trần

Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu.

Tam quân nghĩa là ba quân. Vậy, ba quân này nghĩa là gì? Nghĩa là ba cánh quân, đây là cách bày binh bố trận của người xưa. Họ chia ra làm tiền quân, trung quân và hậu quân. Vậy, sức mạnh của quân đội thời nhà trần được thể hiện như thế nào? “Tỳ” nghĩa là con báo, “hổ” là con hổ, vậy mà tiếc rằng trong bản dịch của Bùi Văn Nguyên lại không thấy xuất hiện con hổ con báo nào cả. Tác giả ví von quân đội nhà Trần không phải là một đại quân ô hợp mà ở đó là một đại quân mạnh mẽ tựa như hùng beo. Hình ảnh này không quá xa lạ trong văn chương, nếu ai đã từng học “Bình ngô đại cáo” chúng ta sẽ nhớ đến câu “Tướng sĩ kén tay tì hổ – Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh” của Nguyễn Trãi. Nghĩa là quân đội phải dũng mãnh như hổ báo, còn bề tôi thi phải là những người tâm túc. Đến con hổ cũng phải nằm im để vuốt răng cho nó, đây phải là những người cực kì tin tưởng. Ở đây, sức mạnh của quân đội thời nhà trần được ví như cái giống hùng beo, hổ báo, một đại quân vô cùng thiện chiến. Đây không phải là nghệ thuật nói quá, bởi ta có ba lần đại thắng quân Nguyên Mông, sức mạnh của đại quân nhanh nhẹn, mạnh mẽ tựa như hùng beo, mạnh như hổ báo. “Khí thôn Ngưu” cái khí thế của họ, cái bản lính của họ có thể hiểu theo 2 cách. “Ngưu” có nghĩa là con trâu, nghĩa là ăn thịt của con trâu vô cùng dễ dàng. Tại sao lại là hình ảnh con trâu mà không phải là con vật khác, vì trong quan niệm của người xưa “con trâu” là đầu cơ nghiệp nó gắn liền với những cái rất to lớn. Vậy mà nuốt trôi con trâu vô cùng dễ dàng, làm được những việc kì vi, phi thường và lớn lao. Hoặc ta có thể hiểu khí thế của họ át đi cả sao Ngưu ở trên trời.

Câu thứ 3, khép lại vẻ đẹp con người , quân đội thời nhà Trần và mở ra ở đó là chí làm trai. Trong thơ ca trung đại, văn chương phải mang vẻ đẹp giáo huấn, giáo dục. Và ở hai câu thơ sau, nói về chí làm trai đối với tư tưởng tư duy của danh tướng Phạm Ngũ Lão. Người đàn ông trên đời thì phải luôn luôn làm được bốn việc:” tu thân, bề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Có rất nhiều tác phẩm thơ viết về chí làm trai như trong bài “Lưu biệt khi xuất dương” Phan Bội Châu đã từng viết:

“Làm trai phải lạ ở trên đời

Há để càn khôn tự chuyển dời”

Hay trong ca dao tục ngữ của Việt Nam khi phê phán những con người không có chí làm trai

" Làm trai cho đáng sức trai

Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng

Thì ở đây chí làm trai của nhà thơ này được thể hiện như thế nào?

“Nam nhi vị liễu công danh trái”

Tác giả đề cập đến công danh, người đàn ông trong đời thì phải luôn luôn lập công danh. Lập công nghĩa là làm được rất nhiều những điều to lớn với quê hương đất nước. Lập danh là để lại tiếng thơm cho muôn đời. Mặc dù là 1 danh tướng thời Trần, trăm trận trăm thắng không biết bao nhiêu chiến công được ông lập nên. Nhưng trong trái tim của ông vẫn luôn luôn canh cánh về món nợ công danh. Để ta thấy được tầm vóc Phạm Ngũ Lão, không bao giờ biết bằng lòng những gì mà ông đã làm được cho đất nước, ông muốn phải làm được nhiều hơn nữa cho giang sơn cho đất nước.

Câu thơ cuối, kết lại vẻ đẹp của một tác phẩm. Nghệ thuật được sử dụng ở đây là nghệ thuật “điển cố”. Điển cố là tên những con người có thật trong lịch lịch sử trở thành mẫu mực, trở thành chất liệu để đưa vào văn chương. Nhà thơ đề cập tới “Vua hầu” mà Vua hầu là Khổng Minh tự là Gia Cát Lượng. Là quân sư số 1 thời tam quốc. Phò tá Lưu Bị trong việc xây dựng lên nhà Thục Hán tạo thành thế chân vạc Tam Quốc Diễn Nghĩa và ông có muôn vàn chiến công hiểm hách như đại chiến Xích Bích, là một con người là một tư cách lớn lao cả đời vì đất nước vì nhân dân. Thái độ của tác giả ở đây đó là sự luống thẹn, có rất nhiều sự luống thẹn khi chúng ta so sánh mình với người khác, nó làm cho con người ta trở nên thấp kém, thấp hèn nhưng nếu so với vua hầu thì chẳng có cái gì thấp kém cả. Phạm Ngũ Lão cũng là 1 danh tướng thời nhà Trần nhưng để ta thấy được cái từ luống thẹn này thể hiện được sự khiêm tốn và khát vọng được làm nên những điều lớn lao hơn nữa đó là cái chí làm trai. Không phải ngẫu nhiên mà một người chỉ đan xọt giữa đường vậy mà trở thành môn khách và sau trở thành con rể của Trần Hưng Đạo. Một con người có tầm vóc, một con người có chí lớn, là con người bình dân nhưng lại trở thành danh tướng thời nhà Trần trăm trận trăm thắng. Và cũng chỉ có ông mới có chuyện vua Trần Minh Tông bỏ năm ngày không lên chầu để thể hiện sự xót thương, thương nhường, quốc tang.

Một bài thơ chỉ vỏn vẹn trong 28 chữ nhưng đủ để ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách con người Phạm Ngũ Lão. Một nốt nhạc trong một bản giao hưởng về lòng yêu nước của những con người thời nhà trần mang trong mình hào khí Đông A.

3. Bình giảng bài thơ "Tỏ lòng" của Phạm Ngũ Lão mẫu 3

Triều đại nhà Trần (1226 - 1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Ba lần kháng chiến và đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông, nhà Trần đã ghi vào pho sử vàng Đại Việt những chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng... bất tử.

Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần được các sử gia ngợi ca là “hào khí Đông A”. Thơ văn đời Trần là tiếng nói của những anh hùng - thi sĩ dào dạt cảm hứng yêu nước mãnh liệt. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão, “Tụng giá hoàn kinh sư’ của Trần Quang Khải, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu... là những kiệt tác chứa chan tình yêu nước và niềm tự hào dân tộc.

Phạm Ngũ Lão (1255-1320) là một danh tướng đời Trần, trăm trận trăm thắng, văn võ toàn tài. Tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ chữ Hán: “Thuật hoài” và “Vãn Thượng tướng Quốc công Hưng Đạo Đại vương”.

Bài thơ “Thuật hoài” thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng khi tổ quốc bị xâm lăng. Đó là bức chân dung tự họa của danh tướng Phạm Ngũ Lão.

Cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) là một tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang dũng mãnh. Câu thơ “Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu” là một câu thơ có hình tượng kì vĩ, tráng lệ, vừa mang tầm vóc không gian (giang sơn) vừa mang kích thước thời gian chiều dài lịch sử (cáp kỉ thu). Nó thể hiện tư thế người chiến sĩ thuở “bình Nguyên” ra trận hiên ngang, hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại. Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện qua một vần thơ cổ kính trang nghiêm: cắp ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc suốt mấy mùa thu để bảo vệ giang sơn yêu quý.

Đội quân “Sát Thát” ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp (ba quân) với sức mạnh phi thường, mạnh như hổ báo (tì hổ) quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Với khí thế ngút trời, đội quân “phụ tử chi binh” ấy ào ào ra trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. “Khí thôn Ngưu” nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm lu mờ sao Ngưu trên bầu trời. Biện pháp tu từ thậm xưng sáng tạo nên một hình tượng thơ mang tầm vóc hoành tráng, cao rộng như vũ trụ: “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Tam quân tì hố...” trong thơ Phạm Ngũ Lão rất độc đáo, không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân “Sát Thát” đánh đâu thắng đấy mà còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca; tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc:

“Thuyền bè muôn đội;

Tinh kì phấp phới Tì hổ ba quân

Giáo gươm sáng chói”.

(Bạch Đằng giang phú)

“Giang sơn hoành sóc, khí thôn Ngưu”.

(Vịnh Phạm Ngũ Lão - Đặng Minh Khiêm)

Người chiến sĩ “bình Nguyên” mang theo một ước mơ cháy bỏng: khao khát lập chiến công để đền ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng! “Phá cường địch, báo hoàng ân” (Trần Quốc Toản) - “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” (Trần Thủ Độ). “...Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng” (Trần Quốc Tuấn)... Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ những tấm lòng trung quân ái quốc của tướng sĩ, khi tầng lớp quý tộc đời Trần trong xu thế đi lên đang gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại. Họ mơ ước và tự hào về những chiến tích hiển hách, về những võ công oanh liệt của mình có thể sánh ngang tầm sự nghiệp anh hùng của Vũ hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối sử dụng một điển tích (Vũ Hầu) đế nói về nợ công danh của nam nhi thời loạn lạc, giặc giã:

“Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu”.

“Công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh được làm nên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công. Đó không phải là thứ “công danh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công danh như một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu và lòng dũng cảm. Không chỉ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu”, mà tướng sĩ còn học tập binh thư, rèn luyện cung tên chiến mã, sẵn sàng chiến đấu “khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ có thế bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai,...” để tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững: “Non sông nghìn thuở vững âu vàng” (Trần Nhân Tông).

“Thuật hoài” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ hùng tráng, mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình tượng kì vĩ, tráng lệ, giọng thơ hào hùng, trang nghiêm, mang phong vị anh hùng ca. Nó mãi mãi là khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ đời Trần, sáng ngời “hào khí Đông A”.

Trên đây VnDoc.com vừa giới thiệu tới bạn đọc Bình giảng bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão, mong rằng đây là tài liệu hữu ích giúp bạn đọc học tập tốt hơn môn Ngữ văn 10 nhé. Mời bạn đọc cùng tham khảo thêm kiến thức các môn Toán 10, Tiếng Anh 10, đề thi học kì 1 lớp 10, đề thi học kì 2 lớp 10...

Ngoài ra, VnDoc.com đã thành lập group chia sẻ tài liệu học tập THPT miễn phí trên Facebook: Tài liệu học tập lớp 10. Mời các bạn học sinh tham gia nhóm, để có thể nhận được những tài liệu mới nhất.

Đánh giá bài viết
1 2.752
0 Bình luận
Sắp xếp theo
Ngữ văn lớp 10 Xem thêm